TRANG CHỦ PGD SƠ ĐỒ WEBSITE LIÊN HỆ
  
TRANG TIN CÁC ĐƠN VỊ

  Đang truy cập: 243  
 
4 8 9 8 0 8
 
 
Giải trí Tham khảo
Đặc trưng ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương

MỞ ĐẦU

 

 

1. Lý do chọn đề tài

          Từ  trước đến nay đã có rất nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về  thơ Hồ Xuân Hương. Có  người cho rằng ở thơ bà : "Thi trung hữu quỷ" (trong thơ có quỷ) – Tản Đà, Xuân Diệu thì gọi bà là : "Bà chúa thơ nôm", nhà thơ Hoa Bằng thì gọi bà là "nhà thơ cách mạng"...Tựu chung các nhà nghiên cứu đều cùng gặp nhau ở một quan điểm đó là thơ Hồ Xuân Hương có một phong cách riêng, khác thường, tài hoa.

          Hồ  Xuân Hương là một hồn thơ giàu giá trị  nhân văn, nhân bản, một chất giọng lạ và giàu sắc thái sáng tạo. Đến với thơ Hồ Xuân Hương là đến với một tài năng và sự độc đáo – một hiện tượng lạ của nền văn học Việt Nam. Một con người độc đáo cả về tính cách lẫn thơ văn, mà kể về sự độc đáo thì từ trước đến nay chưa có một nhà thơ nữ nào sánh bằng. Điều làm nên sự độc đáo nổi tiếng của bà chúa thơ Nôm chính là đặc trưng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương.

          So với các sáng tác của một số nhà thơ đương thời, sự nghiệp sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương không nhiều, chủ yếu là mảng thơ nôm truyền tụng, bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của Lưu Hương Kí, Xuân Hương đàm thoại...với một phong cách thơ không xen lẫn với ai được. Thơ Hồ Xuân Hương chiếm một vị trí đặc biệt trong lòng người đọc, làm say mê, rung động biết bao thế hệ...

          Tôi rất ấn tượng với thơ Hồ Xuân Hương, một chất thơ dung dị dễ hiểu, dễ nhớ  và mang đậm âm hưởng của dân gian, mặt khác tôi có một sự đồng cảm đặc biệt với một nhà thơ cùng quê hương với mình, nên phần nhiều tôi đã hiểu rất sâu sắc tiếng nói chân chất, mộc mạc trong thơ bà, đó cũng là ngôn ngữ của người dân xứ Nghệ quê tôi.

          Trên cơ sở tiếp thu những công trình của các nhà  nghiên cứu, phê bình, và các tài liệu có liên quan, chúng tôi quyết định chọn đề tài: Đặc trưng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương với mong muốn đóng góp thêm một tiếng nói bé nhỏ của mình bên cạnh những công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp thơ của "Bà chúa thơ nôm" – Hồ Xuân Hương.

2. Đối tượng, phạm vi  nghiên cứu 

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu đặc trưng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương.

2.2. Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát thơ Nôm của Hồ Xuân Hương đã được công bố.

3. Mục đích nghiên cứu

          Tìm thấy giá trị nhân văn của nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương.

4. Lịch sử nghiên cứu

          Cuộc  đời và thơ Hồ Xuân Hương là một chuỗi những bí ẩn và gây nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu. Đó là nỗi ám ảnh chưa bao giờ  đứt đoạn về tiểu sử, con người và thơ  văn. Đến với thơ Hồ Xuân Hương, mỗi người đều có sự nhìn nhận đánh giá khác nhau và xem chừng các cách giải quyết vẫn chưa thỏa đáng. Điều đó chứng tỏ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc đáo, bí ẩn nên dù có rất nhiều các công trình nghiên cứu và khám phá về thân thế, con người và thơ văn bà nhưng cho đến nay vẫn chưa đi đến ngã ngũ.

          Chính vì gặp khó khăn trong việc xác lập một cách chính xác thân thế Hồ Xuân Hương nên trước đây có  rất ít các công trình nghiên cứu. Bước sang thế  kỷ XX cuộc đời và sự nghiệp thơ  Hồ Xuân Hương dần dần được vén bức màn bí  ẩn, nhiều các công trình nghiên cứu với đa dạng các hướng khai thác khác nhau ra đời.

          Đầu tiên là phải kể đến công trình nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Thành Ý (1925) "Việt Nam hợp tuyển giảng nghĩa"; "Quốc văn trích diễn" của Dương Quảng Hàm (1925); "Nam thi hợp tuyển" của Nguyễn Văn Ngọc (1927)...Các bài viết này đều nhằm mục đích thu thập những cứ liệu chính về thơ ca của Hồ Xuân Hương và bước đầu đi vào mặt nội dung trong thơ Hồ Xuân Hương.

          Về  sau này, vấn đề thân thế và sự nghiệp thơ ca của bà càng được nhiều sự quan tâm của độc giả. Việc đi tìm chân tướng "người đàn bà bí ẩn", "người lạ mặt" này là một cuộc hành trình không biên giới, đây vẫn là đề tài mở cho những ai có ý muốn khám phá cuộc đời và sự nghiệp thơ bà.

          Đặc trưng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương là một đề tài có rất ít các công trình nghiên cứu. Phải chăng các nhà nghiên cứu muốn tìm rõ tường tận chân dung, thân thế hơn là đi sâu khai thác cái sâu sắc, độc đáo trong ngôn ngữ thơ, các phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa dân gian của người Việt thông qua cái nhìn và cảm nhận của hồn thơ Hồ Xuân Hương! Sau đây, tôi xin đưa ra một số phát hiện mới về đặc trưng ngôn từ mà một số nhà nghiên cứu đã đề cập tới trong một số các công trình sau:

          - Đỗ Đức Hiểu trong "Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương" in trong cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb GD (2003) đã nhận xét: "...Nghệ thuật ngôn từ là một cơ thể sống phức tạp, vận động, nhiều âm thanh, nhiều màu sắc: mỗi tiếng là một "con kỳ nhông", đứng chỗ này thì màu xanh, đứng chỗ khác thì màu nâu, hoặc vàng úa. Thơ là một thể loại thật kỳ ảo. Nhà thơ nói một sự việc, bài thơ mang một ý nghĩa khác...Đó là những điệp trùng của tiếng của câu, của các hệ thống đồng nghĩa, phản nghĩa, ẩn dụ...nhằm diễn đạt ý tưởng( tình cảm, suy tư...) dưới nhiều dạng, ngày càng cao, càng sâu. Cho nên, có thể thấy chiều cao và chiều sâu ấy là một đặc trưng của thơ..."[18,tr.389].

          - Trương Tửu trong "Hồ Xuân Hương - Thiên tài huê nguyệt" in trong cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb GD (2003) đã nhận xét: "...Về ngôn ngữ, Hồ Xuân Hương còn có đặc điểm nữa là hay dùng những chữ tục, nạc, ngọt sớt, người bình dân ưa nói : Ai về nhắn nhủ phường lòi tói, Muốn sống đem vôi quét trả đền...Đầu sư há phải gì bà cốt. Bá ngọ con ong bé cái nhầm... Quân tử có thương thì bóc yếm, Xin đừng ngó ngoáy lỗ chôn tôi...Ong non ngứa nọc châm hoa rữa, Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa...Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông...Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không...Kìa cái diều ai nó lộn lèo. Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài, Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo...Ta có thể nói về cách dùng chữ, đặt câu, xếp ý của Hồ Xuân Hương để trào phúng thói đời hay bộc lộ tình tự.." [11,tr 84].

          - Đặng Thanh Hòa trong bài viết "Thành ngữ và tục ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương" in trong tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 4 (2001), đã nhận xét như sau: " Người ta thường bảo "nôm na là cha mánh khóe" thế nhưng đến với thơ Hồ Xuân Hương thì đó là một ngoại lệ, bởi vì người đọc nhớ đến Hồ Xuân Hương, yêu Xuân Hương lại chính từ cái "mánh qué" ấy. Nếu không có chất "nôm na", "mánh qué", "xỏ xiên" đầy tinh quái này thì có lẽ đã không có một Hồ Xuân Hương để cho người đời chiêm ngưỡng và tôn vinh bà thành bà chúa thơ Nôm trong làng thơ Việt Nam. Chính cái chất nôm na trong thơ của bà đã tạo nên một chất men xúc tác mãnh liệt trong lòng người đọc. Người ta ngây ngất, hỉ ha, khoái trá với cái thứ ngôn ngữ "nhà quê", "mánh qué"...Tất cả những cái đó hoàn toàn xa lạ với sự chau chuốt, gọt giũa, khuôn sáo mà người ta thường bắt gặp trong ngôn ngữ thơ". [10, tr. 22].

          - Lê Trí Viễn trong cuốn "Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương", Nxb GD (1998) đã nhận xét như sau : "Sở dĩ ngôn ngữ Xuân Hương lột được mọi ý đồ của nữ sĩ chính vì cái tài vô song của người vận dụng. Cái tài ấy chẳng khác gì cái tài của người làm xiếc. Vượt xa trên mức tưởng tượng. Tài tình như thần thông biến hóa. Dân gian mà cổ điển. Điêu luyện mà cứ hồn nhiên. Thực hư, hư thực, nó đấy mà không phải nó, bóng mà hình, hình mà bóng, đùa mà thật, thật mà đùa. Có vẻ như Tôn Ngộ Không với Tam Tăng thì chỉ một thân, trung thật, chân chất đến xúc động, nhưng với yêu quái, ma vương thì có đến trăm Tôn Ngộ Không, chẳng biết đâu là thật, là giả " [24, tr. 34].

          - Lê Hoài Nam trong bài viết "Hồ Xuân Hương" in trong cuốn  Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương  Nxb GD (1998) đã nhận xét: "Xuân Hương có vốn ngôn ngữ rất phong phú, rất chính xác, nhưng đồng thời cũng rất độc đáo. Điều đó không phải chỉ chứng tỏ Hồ Xuân Hương nắm vững ngôn ngữ của dân tộc, mà còn biểu hiện cá tính mạnh mẽ của Xuân Hương. Có những tiếng như : hỏm hòm hom, trơ toen hoẻn, chín mõm mòm, đỏ lòm lom, sáng banh, trưa trật...phải là người có bản lĩnh vững vàng như Xuân Hương mới có thể đưa vào văn học, nhất là vào thi ca được. Nói chung thì ngôn ngữ của Xuân Hương có một sức biểu hiện rất mạnh, bao giờ cũng xúc tích, hình ảnh sinh động, nói như ngày xưa thì mỗi một tiếng là đắc một tiếng"  [24, tr. 172].        

          - Nguyễn Đăng Na trong "Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian" in trong cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb GD (2003) đã nhận xét: "...Chủ nghĩa nhân đạo thù địch với chủ nghĩa cấm dục tôn giáo, thù địch với thói đạo đức giả đã khiến Xuân Hương đưa những cảm hứng dân gian không được giai cấp thống trị thừa nhận vào thơ chính thức. Đó cũng là nét riêng của Hồ Xuân Hương, bà tiếp tục tiếng cười dân gian một cách thành công. Tuy nhiên văn học dân gian không phải là nguồn duy nhất tạo nên Hồ Xuân Hương..." [11,tr.363].

          - Đỗ Lai Thúy trong bài viết "Đi tìm phong cách thơ Hồ Xuân Hương" in trong cuốn Hồ Xuân Hương, Nxb Văn Nghệ TP HCM (1997) đã nhận xét như sau: " ...Thơ Hồ Xuân Hương có một kiến trúc ngôn từ khác lạ, một ngôn ngữ khác lại. Đọc thơ bà hoặc bằng sự mẫn cảm, hoặc bằng phương pháp thống kê, có thể chia ra những nét đặc biệt trong cách sử dụng ngôn từ..."[11, tr. 90].

          - Đào Thái Tôn trong bài "Xuân Hương đàm thoạiMột nhịp nối trong tiến trình dân gian hóa"  in trong cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb GD (2003) đã nhận xét: "...Như một phương tiện quan trọng trong nghĩa của hai chữ "nhân quyền". Có điều là một tiếng nói như thế, ở một thời điểm lịch sử cụ thể, ở một con người cụ thể, lại là một phụ nữ có hoàn cảnh chắc chắn không phải sống trong nhung lụa như một nàng Mai Am nào đó, thì phương tiện chủ yếu để bảo tồn tiếng nói ấy cho đến nay, không còn gì khác hơn là lòng người "bia miệng". Đó là phương tiện thường thấy trong văn học dân gian; phương tiện không biết tự bao giờ đã giữ lại cánh cò cánh vạc, từng tiếng ru xao động lòng người...". [11,tr.263].

          - Đỗ Lai Thúy trong bài "Đi tìm phong cách thơ Hồ Xuân Hương" in trong cuốn Hồ Xuân Hương, Nxb Văn nghệ Tp HCM (1997) đã nhận xét: "...Nhiều người cho rằng công lao của Hồ Xuân Hương chỉ giới hạn ở sự Việt hóa thể thơ Trung Quốc này mà quan trọng hơn mà còn làm mới thể thơ Luật Đường. Việc thi nhân đưa vào cái cấu trúc đã hoàn chỉnh của nó những yếu tố dị biệt, những nghịch cảm, chất liêu trai, mà không làm sụp đổ thể loại, ngược lại còn nâng nó lên một chất lượng mới, quả thật rất lạ lùng. Có lẽ ở mỗi bài của Xuân Hương, đằng sau ý nghĩa tâm linh, tín ngưỡng phồn thực, đằng sau cái con người xã hội chính là con người vũ trụ..." [2,tr.98]. Trong bài "Hoài niệm phồn thực" in trong cuốn Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm Đỗ Lai Thúy  đã  khái quát như sau: "...Những biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương vừa không phải là tục vừa là tục. Bởi vì nó gắn chặt với một điều thiêng liêng là sự cầu mong sinh sôi nảy nở cho mùa màng, con người, động vật và cây cối. Nó chính là điều thiêng liêng. Trong ý thức dân gian người ta cũng không coi đó đơn thuần là dâm tục chỉ có trong ý thức chính thống của xã hội thì đó mới là dâm tục, bởi vì người ta tách rời những biểu tượng này khỏi cái thiêng liêng là sự cầu mong phồn thực phồn sinh..." [11,tr.282]...

          - Ngô Gia Võ trong bài " Nghệ thuật với ý nghĩa khẳng định khát vọng nhân văn trong thơ nôm Hồ Xuân Hương" in trong cuốn Hồ Xuân Hương tác gia và tác phẩm đã khẳng định: "...Thơ Hồ Xuân Hương là khúc hát bay bổng và rạo rực ngợi ca, khẳng định hạnh phúc trần tục của con người. Thơ bà xoay đi, xoay lại cuối cùng chủ yếu để nhằm xoáy vào việc khẳng định khát vọng tự nhiên, ngợi ca hạnh phúc trần tục, đòi giải phóng bản năng con người khỏi mọi trói buộc khổ hạnh của cường quyền và thần quyền..." [11,tr.330].

          Hồ  Xuân Hương không chỉ được nghiên cứu và đánh giá cao ở trong nước mà còn thu hút sự  chú ý quan tâm của nhiều người nước ngoài. Sau đây là một số nhận xét, đánh giá tiêu biểu về thơ Hồ Xuân Hương:

          - Jăng Ruxtal – Trong bài tựa bản dịch thơ Hồ  Xuân Hương sang tiếng Pháp đã coi Hồ Xuân Hương là : " Một trong những tên tuổi lớn của văn học Việt Nam và không chút nghi ngờ, là một trong những nữ sĩ hàng đầu của Châu Á” [18, tr. 454].

          - Jean Ristat cũng nhận xét : "Tình yêu thân xác (trong thơ bà) là tình yêu toàn vẹn. Nó bao gồm cả thiên nhiên trong đó. Tất cả đầy ăm ắp những thần linh, tất cả đều xoáy về tình yêu”[18, tr. 441].

          Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều có một tiếng nói chung là thống nhất với  nhau  trên những vấn đề cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn. Tuy nhiên,  ở một mức độ nào đó vẫn có những thái độ khen chê khác nhau thậm chí còn có một số ý kiến mâu thuẫn nhau và cho đến nay vẫn chưa có một sự giải quyết thỏa đáng. Thơ Hồ Xuân Hương thật sự có một sức quyến rũ mạnh giống như "Lược trúc chải cài trên mái tóc / Yếm đào trễ xuống dưới nương long / Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm / Một lạch đào nguyên nước chửa thông”. Những phát hiện, tìm tòi mới về thân thế, sự nghiệp thơ bà vẫn sẽ là vấn đề nóng hổi thu hút nhiều công trình tham gia nghiên cứu giành cho những ai say mê, muốn khám phá thơ bà thì hãy tìm về với ngọn nguồn của thơ ca truyền thống mà chiêm nghiệm.

5. Phương pháp nghiên cứu

          - Phương pháp so sánh đối chiếu: Chúng tôi đã tiến hành so sánh các sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương với các sáng tác thơ của các nhà thơ cùng thời với bà, qua đó làm nổi bật đặc trưng ngôn từ trong thơ "bà chúa thơ nôm" - Hồ Xuân Hương.

          - Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở phân tích, nhận xét, đánh giá từ đó rút ra các kết luận cần thiết có liên quan đến đặc trưng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương

          - Phương pháp thống kê, phân loại: Trích ra một số bài thơ tiêu biểu của từng giai đoạn và phân loại chúng theo từng mốc thời gian nhất định.

6. Cấu trúc của đề tài

          Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài của chúng tôi gồm có ba chương chính:

          Chương 1. Hồ Xuân Hương - Thời đại, cuộc đời và  thơ

          Chương 2. Đặc trưng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương

          Chương 3. Ý nghĩa biểu đạt qua cách sử dụng ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương 

 

 

 

NỘI DUNG

Chương 1

HỒ XUÂN HƯƠNG  - THỜI  ĐẠI, CUỘC ĐỜI VÀ THƠ

 

 

1.1. Đặc trưng nghệ thuật ngôn từ

1.1.1. Ngôn từ trong văn học

          Văn học là một loại hình nghệ thuật, chính vì  thế mà lâu nay người ta thường dễ dàng bằng lòng đối sánh nó với các loại hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, triết học, đạo đức...để rút ra những đặc trưng như tính hình tượng, tính truyền cảm...Song thật ra đây là những đặc trưng chung của nghệ thuật với tư cách là một loại hình thái ý thức xã hội, tuy rất cần thiết nhưng chưa gọi là đủ để làm nổi bật lên đặc trưng riêng của văn học. Bởi lẽ văn học không chỉ là một loại hình thái ý thức xã hội mà nó còn là một loại hình nghệ thuật. Do đó phải tiến lên khám phá đặc trưng của văn học trong sự đối sánh với các loại hình nghệ thuật khác. Đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật xét đến cùng đều bắt nguồn từ chất liệu của nó.

          Nói đến văn học là nói đến nghệ thuật ngôn từ, ngôn ngữ là chất liệu xây dựng hình tượng văn học, là phương tiện giao tiếp, là công cụ tư duy của con người. Văn học không chỉ là một loại hình thái ý thức xã hội mà nó còn là một loại hình nghệ thuật, xét đến cùng là bắt nguồn từ chất liệu của nó. Chất liệu của hội họa là màu sắc và đường nét. Chất liệu của âm nhạc là âm thanh và tiết tấu. Chất liệu của vũ đạo là hình thể và động tác...và những trạng thái của nó. Trái lại chất liệu của văn học là ngôn ngữ hay nói đúng hơn là ngôn từ, đều không phải là bản thân vật chất mà chỉ là kí hiệu của nó mà thôi. Chất liệu của văn học dùng ngôn ngữ theo nghĩa gốc, nghĩa là chỉ một hệ thống tiếng nói của một cộng đồng người nhất định, phân biệt với các cộng đồng khác, và có thể khái quát lại trong từ điển và sách ngữ pháp. Ngôn từ là ngôn ngữ trong vận động, tức là lời nói được thể hiện qua những chủ thể phát ngôn khác nhau. Nhưng nói văn học là nghệ thuật của ngôn từ, song không phải là những ngôn từ logic chỉ tác động chủ yếu vào lý tính như trong chính trị, triết học..., mà phải là ngôn từ giàu hình ảnh và tình cảm, tác động chủ yếu vào tâm hồn con nguời.

1.1.2. Đặc trưng của tác phẩm trữ  tình

          Trước hết ta biết rằng tác phẩm trữ tình là tác phẩm văn học chủ yếu dùng phương thức trữ tình để miêu tả, nghĩa là thông qua bộc lộ tình cảm của tác giả mà phản ánh hiện thực. Ở đây tác giả trực tiếp bộc lộ những cảm xúc của mình trước hiện thực đời sống. Có tác phẩm được viết bằng văn xuôi ( tức là một loại thơ trữ tình, có cấu trúc thơ giống văn xuôi, câu nọ cách câu kia không xuống dòng và dường như không có vần và nhịp điệu, không mang tính chất cố định và không theo niêm luật nào), có tác phẩm trữ tình thuộc loại thơ như thơ trữ tình. Có thể khẳng định rằng, trong tác phẩm trữ tình thì thơ chiếm bộ phận lớn nhất đồng thời tiêu biểu nhất.

          Tác phẩm trữ tình bộc lộ cảm xúc một cách trực tiếp. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của tác phẩm trữ tình. Nếu như tác phẩm tự sự  thiên về miêu tả, tác phẩm kịch tập trung miêu tả  hành động thì tác phẩm trữ tình lại thiên về  bộc lộ cảm xúc của nhà thơ, nhà văn. Ví dụ tinh thần lạc quan, yêu đời của Tố Hữu trong những năm 1960 :

                   Xẻ  dọc Trường sơn đi cứu nước,

                   Mà  lòng phơi phới dậy tương lai.

          Cũng là tinh thần hăng say, quên mình của cả một thế  hệ thanh niên Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ gian khổ nhưng hào hùng.

          Nhân vật trữ tình thường là hiện thân của tác giả  nhưng cũng có khi là nhân vật được tác giả  mượn để thể hiện tâm trạng. Nhân vật trữ  tình tuy không được miêu tả đầy đủ diện mạo mà chỉ được biểu hiện qua cảm xúc cá nhân, nhưng thông qua ngôn ngữ ta có thể tưởng tượng ra chân dung tác giả. Lời thơ trong tác phẩm trữ tình đầy cảm xúc, tình cảm. Vì vậy khi phân tích tác phẩm trữ tình người ta không thể không phân tích tính nhạc – một trong những đặc trưng của thơ trữ tình. Nhạc tính trong thơ gồm các yếu tố vần, thanh điệu, nhịp điệu…Tính nhạc là một yếu tố quan trọng được coi là sinh mệnh của thơ. Xuân Diệu đã thật tài tình khi miêu tả cái lâng lâng trong cảm xúc của những người đang yêu bằng những thanh bằng liên tiếp:

                   Sương nương theo trăng ngừng lưng trời,

                   Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.

          Tác phẩm trữ tình thường ngắn gọn do mỗi tác phẩm chỉ thể hiện một cảm xúc chủ đạo, một tâm trạng gắn liền với một thời điểm. Như  Nguyễn Khuyến trong bài thơ Khóc Dương Khuê, ông thể hiện lòng thương xót, tiếc nuối trước cái chết của người bạn cố tri. Do tính ngắn gọn nên tác phẩm trữ tình coi trọng sự cô đọng, hàm xúc. Mỗi chữ, mỗi câu, mỗi chi tiết, hình ảnh đều có vai trò quan trọng nhằm thể hiện nội dung sâu sắc ẩn chứa bên trong.

          Do trực tiếp bộc lộ cảm xúc nên lời văn trong tác phẩm trữ tình tràn đầy tính biểu cảm. Trong tác phẩm trữ tình, do chủ thể trực tiếp bộc lộ cảm xúc nên giọng điệu giàu sắc thái biểu cảm. Hồ Xuân Hương cũng đã uất ức với thân phận lẽ mọn mà đã thốt lên:

                    Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,

                    Kẻ  đắp chăn bông kẻ lạnh lùng.

          Có  thể nói, văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung tồn tại thông qua tác phẩm. Không thể nói  đến âm nhạc, hội họa, điêu khắc…nếu không có  những bản nhạc, bức tranh, pho tượng…Cũng như vậy, không thể nói đến văn học nếu không có những bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết…Tác phẩm văn học trước hết là những sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn từ, trong đó chứa đựng những nội dung, tình cảm nhất định. Dung lượng có thể hàng ngàn trang nhưng cũng có thể chỉ một vài câu. Nó có thể được sáng tác bởi một cá nhân hoặc là sản phẩm tinh thần của một tập thể. Điểm cơ bản để phân biệt tác phẩm văn học với tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật khác là nó được sáng tạo nên bằng nghệ thuật ngôn từ.

1.1.3. Ngôn từ trong thơ Hồ Xuân Hương

          Về  ngôn ngữ, có thể nói "văn học cổ không ai giản dị dễ hiểu và mộc mạc như Xuân Hương. Ngôn ngữ của Xuân Hương không khác gì  ngôn ngữ của ca dao, tục ngữ. Thỉnh thoảng trong thơ  bà có một đôi từ Hán Việt, thì  hầu hết đã được Việt hóa, đã đi vào kho từ vựng phổ biến của Tiếng Việt" [18, tr.187]. Cá biệt như trong bài Bỡn bà lang khóc chồng, nhà thơ dùng nhiều từ Hán Việt, thì đó là một dụng ý. Bởi vì đây là một bài thơ "bỡn", Xuân Hương có ý dùng rất nhiều tên thuốc bắc thì cho đến bây giờ chúng ta vẫn còn gọi bằng từ Hán Việt như thế...

          Thơ Hồ Xuân Hương là một lối thơ rất tự  nhiên, thật gần gũi với đời sống thường nhật, với lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân lao động. Lời thơ không cầu kỳ, gọt dũa mà vẫn thiết tha, nhẹ nhàng rót vào lòng người những cung bậc rất thánh thót, ngân vang. Thơ bà đã thoát ra ngoài khuôn sáo, ít dùng điển cố Hán văn, lời thơ thường dùng theo lối ca dao, tục ngữ.

          Trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương, bên cạnh tiếng cười giòn giã, lạc quan, thách thức, còn có cả  tiếng thở dài ngậm ngùi, xót xa giữa đêm khuya thanh vắng về thân phận long đong chìm nổi, cho số kiếp hẩm hiu, bạc bẽo của người phụ nữ. Cái "tục" trong thơ bà nhiều khi là con dao hai lưỡi, nó vừa phản ánh cái tục của cuộc đời trần tục vừa cái “tục” theo ý nghĩa phồn thực. Trong quá trình phát triển của lịch sử, Hồ Xuân Hương đã có cống hiến lớn lao trong việc nêu lên vấn đề về quyền sống và nhân phẩm của người phụ nữ, chống lại những tập tục, những quan điểm bất công vô nhân đạo của lễ giáo phong kiến. Tiếng nói mạnh bạo, thống thiết của Hồ Xuân Hương sẽ mãi mãi vang vọng nhờ giá trị lịch sử và nhân văn của nó.

          Nhìn chung, có thể nói "ngôn ngữ trong thơ Hồ  Xuân Hương phần lớn là một ngôn ngữ thuần túy Việt Nam. Xuân Hương có tài khai thác vốn ngôn ngữ súc tích, cô đọng của ca dao, tục ngữ. Trong cấu trúc chung của câu thơ Xuân Hương, những yếu tố ca dao, tục ngữ được đặt đúng chỗ nên rất tự nhiên, nó nhuyễn vào những từ, trong những cấu trúc câu thơ tạo thành một thể hữu cơ thống nhất" [18, tr. 187], mang lại giá trị biểu đạt cao.

1.2. Hồ Xuân Hương- Thời đại và cuộc đời

1.2.1. Thời đại Hồ Xuân Hương

          Lịch sử Việt Nam có lẽ không có thời nào tồi tệ cho bằng những năm cuối đời Lê. Năm 1767, Trịnh Sâm lên ngôi chúa mê tửu sắc, bị  bệnh kỳ quái, sợ nắng gió, ngày đêm cứ  phải ở trong cung kín như bưng. Yêu Thị Huệ, Trịnh bỏ con trưởng là Trịnh Khải lập con thứ là Trịnh Cán, gây ra bè đảng trong cuộc tranh giành quyền lực. Đàng trong quận chúa Nguyễn cứ lăm le ra đánh phá, quấy nhiễu. Trước hỗn cảnh đó, quan lại chỉ còn biết lấy nịnh hót, luồn cúi làm lẽ sống. Nhân dân sống trong cảnh loạn ly, các giá trị đạo đức bị băng hoại. Bao nhiêu nghĩa quân thần, tình gia quyến, bao nhiêu ước thúc luân lý…bị lật nhào. Bởi thế bao nhiêu cặn bã xã hội đều nổi trên mặt. Những bậc già cả, những vị có học nhìn thời cuộc đâm chán nản, trái lại những kẻ cơ hội thoả mãn những mưu đồ vô đạo, bất chính. Đây là giai đoạn suy tàn của những luân lý giáo điều Nho giáo và sự trỗi dậy của những tư tưởng cá nhân tự do, muốn đả phá và giải phóng khỏi những ràng buộc của những định kiến Nho giáo.

          Hồ  Xuân Hương đã sống trong một giai đoạn sóng gió nhất với nhiều biến cố kinh thiên động địa nhất trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta. Khi nói về thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến  đã có câu:

      Thơ thánh thơ tiên đời vẫn có,

     Tung hoành thơ quỷ hiếm hoi thay.

          Vì  sao gọi thơ Hồ Xuân Hương là thơ quỷ? Phải chăng tính chất quỷ đó được sinh ra từ  một xã hội quỷ sứ? Hay là tính chất ngông nghênh, quậy chọc như quỷ sứ trong thơ  bà! Tìm hiểu đôi nét về thời đại, sự  nghiệp thơ để hiểu hơn về cuộc đời người đàn bà tài hoa mà bạc mệnh này. Hồ Xuân Hương sống vào thời vua Lê chúa Trịnh. Chế độ phong kiến đã trải qua một cuộc khủng hoảng cực kì trầm trọng.

1.2.2. Cuộc đời Hồ Xuân Hương

          Hồ  Xuân Hương là một nữ sĩ kỳ tài, điều  đó có lẽ không cần phải bàn cãi gì nhiều. Nhưng xét đến tiểu sử của bà thì thật là mờ mịt. Xung quanh vấn đề này còn rất nhiều giả thuyết khác nhau. Người ta biến những câu chuyện kể về bà thành những huyền thoại, mỗi người nói một cách khác nhau khiến cho giới nghiên cứu đau đầu, lúng túng bởi đứng trước tình cảnh không thể biết đích xác về cuộc đời của một nữ sĩ như Hồ Xuân Hương, nghi vấn cả một số bài thơ không biết có phải là của Hồ Xuân Hương hay không nữa. Đi tìm dấu tích văn tài này, chúng ta chỉ có thể dõi theo dòng lịch sử, dõi theo những dấu ấn được khắc hoạ trong chính thơ ca của bà.

          Cho đến tận bây giờ, người ta vẫn không biết đích xác nữ sĩ Hồ Xuân Hương sinh và mất vào đúng năm nào. Trước nhiều giả thuyết khác nhau, thì đã có nhiều tác giả đã đi  đến cùng một kết luận. Nguyễn Hữu Tiến trong cuốn Giai nhân di mặc (in năm 1915), Song An trong bài Thân thế và văn chương cô Hồ Xuân Hương (in trên báo Đông Tây số 12/1929), Dương Quảng Hàm trong Việt văn giáo khoa thư (in năm 1940) đều thống nhất ở một số điểm sau: Hồ Xuân Hương là con gái của Hồ Phi Diễn, một thầy đồ xứ nghệ, quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Dạy học ở Hải Dương rồi kết bạn với một cô gái xứ Đông, sinh ra Hồ Xuân Hương. Gia đình này sau lên Thăng Long, khi thì ở vùng Khán Xuân bên Hồ Tây, khi thì ở phường Tiên Thị bên bờ Hoàn Kiếm. Hồ Xuân Hương đã từng lấy lẽ một cai tổng (Tổng Cóc) và một tri phủ (Vĩnh Tường). Bà còn là bạn thơ của Chiêu Hổ tức Phạm Đình Hổ (1768 – 1839). Như vậy Hồ Xuân Hương  sống khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.

          Nhưng đến năm 1957, trên Tạp chí văn học,  Hồ  Tuấn Niêm căn cứ vào sáu bộ gia phả của các chi họ Hồ ở Nghệ An rút ra một thông tin cực kỳ hấp dẫn:  Xuân Hương là cùng một họ và bằng vai với Quang Trung – Nguyễn Huệ. Với việc công bố tài liệu này, gốc gác Xuân Hương xem ra sáng tỏ hơn. Rồi đến năm 1963, tình hình có khác. Trên Tạp chí Văn học số 4 – 1963, Trần Thanh Mại phát hiện một tập thơ chữ Hán với nhan đề Lưu hương ký mà tên tác giả lại cũng là Hồ Xuân Hương. Tập thơ này còn cho biết Hồ Xuân Hương còn lại bạn tình của tác giả Truyện Kiều. Nhưng sách này lại cho hay rằng Hồ Xuân Hương là em gái ruột của Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống (1739 – 1785 ) tức con gái Hồ Sĩ Danh. Vấn đề thành ra rắc rối !

          Càng rắc rối thêm là tới năm 1974, một tài liệu mới  được công bố nêu thêm một nghi vấn về lai lịch của bậc tài tử này: Trên Tạp chí Văn học số 3/1974 có đăng bản dịch Xuân Hương đàm thoại của Tam nguyên Trần Bích San (1840 – 1878 ) một danh nhân của Nam Định. Bài này cho biết vào năm Tự Đức 22 (1870) một nhóm văn nhân họp bạn cuối năm. Một người đến chậm, cáo lỗi vì phải đi dự đám tang của “ tài nữ quê Nghệ An, hiệu là Cổ Nguyệt Đường, nàng ở Từ Sơn, mộ mai táng bên núi Nguyệt Hằng”.

          Như  vậy, có một Hồ Xuân Hương mất vào năm 1870 và  mộ bên núi Nguyệt Hằng tức núi Chè, nay thuộc huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh. Bà cũng là người Nghệ An, cũng là tài nữ có kiếp sống long đong. Lại cũng nhắc đến một bài thơ của hoàng tử Tùng Thiện Vương: theo bài thơ này thì có một Hồ Xuân Hương mà phần mộ ngay ở Hà Nội và nàng mất trước 1842 là năm Tùng Thiện Vương ra thăm Hà Nội.

          Vậy ai là Xuân Hương Bà chúa thơ Nôm? Vấn  đề đang treo ở đấy thì đến năm 1985, ông Hoàng Xuân Hãn Trên tạp chí Khoa học xã hội in ở Pháp, với nhiều thư tịch, tư liệu mới tìm ra đã chứng minh rằng Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm và Hồ Xuân Hương - tác giả Lưu hương ký (bạn tình của Nguyễn Du) cùng với Hồ Xuân Hương có phần mộ ở Hà Nội chỉ là một người. Và ông Hoàng còn cho biết rằng khoảng năm 1818 Hồ Xuân Hương đang làm vợ lẽ của viên quan tham hiệp trấn Yên Quảng (nay tỉnh Quảng Ninh), tên là Trần Phúc Hiển. Năm 1819, Phúc Hiển bị triều đình khép án tử hình.

          Như  vậy tiểu sử của Xuân Hương vẫn còn phải nghiên cứu thêm. Nhưng một vấn đề có thể khẳng định rằng bậc tài nữ này đã cất cao tiếng nói đòi nữ quyền bằng thơ ca rất sắc sảo và một số bài đã lấy đề tài là cảnh và người Hà Nội: Chùa Quán Sứ, núi Khán Sứ, mấy ông đồ ở phường Tiên Thị…

          Hồ  Xuân Hương là con của Hồ Phi Diễn nhưng lại là  con của một người thiếp. Như thế ta thấy nàng không hề có một địa vị may mắn  nào. Cái cảnh vợ lớn, vợ bé xưa nay chắc ai cũng có thể hình dung là nó kinh khủng đến mức nào! Tránh sự thù ghen tuông thù ghét, người cha dù thương con đến mấy cũng không dám bênh vực, chỉ biết yên lặng cho “trong ấm ngoài êm”. Nhưng một khi cái sợi dây liên lạc đó mất đi, người cha mất đi thì ôi thôi! cảnh địa ngục trần gian diễn ra như một tất yếu vậy! Hồ Xuân Hương đã sống trong cảnh ngộ đó. Khi cha nàng mất đi, hẳn nàng đã phải sống những tháng ngày đen tối, tủi nhục nhất. Cái đen tối ấy theo đuổi nàng mãi: Sinh làm con một người thiếp, sống cuộc đời làm kiếp vợ lẽ. Cả cuộc đời nàng không có lấy một ngày hạnh phúc, chưa bao giờ thấy nàng cười, nàng có cười vả chăng chỉ là cái cười mỉa mai, chua xót cho thân phận của mình. Như thế đời nàng vui sao được, như thế bảo nàng không hận đời sao được.

          Đã thế nàng lại sinh ra vào cái thời xã hội rối loạn, nhố nhăng ấy nữa. Con người Hồ Xuân Hương bị ném vào cái xã hội đó và rồi ta thấy đời nàng đã phải giãy giụa trong truỵ lạc lụt ngập của xã hội. Người ta nói: tất cả các yếu đuối của xã hội đương thời đã kết tinh lại ở nàng, nhào nặn với cá tính nàng mà làm nên một thi sĩ độc đáo. Xã hội Việt Nam thời ấy không hề chờ đợi có một người như Hồ Xuân Hương đến, nhưng nàng đã đến trong cái xã hội ấy ngay giữa lúc bọn đồ gàn ít chờ đợi nhất. Nàng đã đến với một trái tim và một đầu óc trọn vẹn nhất, với tất cả mọi giác quan còn tinh khôi, và đặc biệt là với đôi mắt tinh đời ấy, ta cứ tưởng tượng như chỉ cần một cái nhìn nàng đã thấy được tận gan ruột. Nữ sĩ đã vạch rõ cái chân tướng của cả những kẻ hiền nhân quân tử, những bậc trượng phu, anh hùng và đã đặt họ lại những chỗ ngồi đúng với giá trị thực của họ giữa lúc cả bọn đang múa máy quay cuồng, tâng bốc bợ đỡ nhau.

1.3. Thơ Hồ Xuân Hương

1.3.1. Sự nghiệp thơ Hồ  Xuân Hương

          Tác phẩm của Hồ Xuân Hương không có di cảo, những tác phẩm được coi là của bà đều do người sau ghi chép lại bởi thế tình trạng dị bản rất phổ biến. Về thơ, có khoảng một trăm bài  được sáng tác chủ yếu bằng thể tứ tuyệt và thất ngôn bát cú trong đó bốn mươi bài có sự thống nhất về phong cách nghệ thuật. Ngoài ra còn có tập Lưu hương kí, tập thơ gồm hai mươi bốn bài thơ chữ Hán và hai tám bài thơ chữ Nôm.

          Hồ  Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho trào lưu nhân đạo chủ nghĩa của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX. Bởi những sáng tác của bà đã nêu bật được những vấn đề riêng tư, những nỗi bất công mà người phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu đựng và tin tưởng đấu tranh để bênh vực quyền lợi phụ nữ. Thơ Hồ Xuân Hương có một số bài viết về cảnh ngộ riêng tư. Đó là nỗi niềm của một người phụ nữ giàu sức sống và hết sức tài hoa nhưng cuộc đời đầy bất hạnh. Những đề tài trong cuộc sống bình thường giản dị hàng ngày nhưng khi đi vào thơ Hồ Xuân Hương lại rất mới mẻ, sinh động, có tính chất úp mở hai nghĩa, một nghĩa đen phô ra, nói trực tiếp về đối tượng nhà thơ miêu tả, và một nghĩa ngầm nói về chuyện thầm kín trai gái. Song không phải như thế mà thơ của bà nhả nhớp, khêu gợi những dục vọng kín đáo của con người. Một mặt thông cảm, bênh vực và đề cao người phụ nữ, Hồ Xuân Hương còn lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, bà vạch trần lối sống đạo đức giả, trái đạo đức của chúng. Hồ Xuân Hương kế thừa truyền thống của truyện tiếu lâm dân gian thường dùng cái tục làm phương tiện đả kích. Được sáng tác theo thể đường luật nhưng thơ Hồ Xuân Hương được dân tộc hóa cao độ. Bà đã gặt hái được không ít thành công trong việc đưa cuộc sống trần tục hàng ngày vào một thể thơ vốn đài các, quí phái. Hồ Xuân Hương lợi dụng triệt để kết cấu chặt chẽ của bài thơ đường luật với những câu đối nhau để tạo những mâu thuẫn có tính chất trào phúng trong những bài thơ châm biếm, đả kích. Về phương diện ngôn ngữ, Hồ Xuân Hương cũng có những sáng tạo và thành công đáng kể trong việc sử dụng ngôn ngữ đời thường, trong việc học tập ca dao, tục ngữ, thành ngữ để sáng tác thơ. Nữ thi sĩ tài hoa đã khai thác triệt để khả năng tu từ phong phú của ngôn ngữ dân tộc và đã mài sắc ngôn ngữ dân tộc của thời đại mình.

1.3.2. Chất liệu trong thơ Hồ  Xuân Hương

          "Thơ  Hồ Xuân Hương mang đậm sắc thái của dân gian" [11, tr. 98]. Ở  đây không chỉ bó hẹp ở phạm vi văn học dân gian mà còn mở rộng sang cả nghệ  thuật dân gian, sinh hoạt văn hóa dân gian, lời ăn tiếng nói trong thơ Hồ Xuân Hương cũng rất dân gian. Vậy ta cần tìm hiểu thế nào là chất liệu. Theo như Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì chất liệu là cái dùng làm vật liệu, tư liệu để sáng tạo nên các tác phẩm nghệ thuật.

          Trên  đây là cách hiểu của chúng tôi về chất liệu trong tác phẩm nghệ thuật, song điều mà chúng tôi muốn đề cập sâu hơn ở đây là chất liệu dân gian trong văn học. Từ xưa, mặc dầu sống trong một trạng thái văn hóa thấp kém, con người luôn có khát vọng thể hiện trong các tác phẩm nghệ thuật tất cả những tư tưởng, sinh hoạt, tình cảm của mình, đồng thời phản ánh tất cả những phong tục, tập quán, quan niệm hình thành dân tộc, những cuộc chiến đấu với thiên nhiên hay cả những ước mơ của mình. Dù bị áp bức bóc lột thế nào đi nữa thì quần chúng lao động vẫn sản sinh được một nền văn hóa trong đó có dòng văn học dân gian. Bắt nguồn từ quá trình lâu đời trong sản xuất và chiến đấu. Từ khi xã hội chưa có giai cấp cho đến khi xã hội có giai cấp, dòng văn học dân gian được khơi gợi, lan truyền và phát triển để phục vụ sản xuất và chiến đấu, sinh hoạt hàng ngày của người dân lao động. Trong văn học dân gian, ngôn ngữ được sử dụng là lời ăn tiếng nói trong cách sinh hoạt hàng ngày của người dân. Sản phẩm dân gian được đưa vào tác phẩm dân gian rất phong phú. Có khi là những món ăn dân dã như: bánh chưng, bánh giày, bánh trôi nước. Có khi là những phong tục tập quán: tục ăn trầu, tục thờ cúng thần linh cầu cho mùa màng bội thu, có khi nó là những trò chơi dân gian đã có rất lâu đời: Đấu vật, đánh đu, bịt mắt bắt dê, nặn tò he... Tổng hợp lại là phong cách dân gian, cái hồn dân gian. Nó chân chất mộc mạc, chân tình, thực tế nhưng giàu hình tượng. Nó tạo thành một giọng điệu riêng khác hẳn với văn học viết. Tất cả đều là sản phẩm của dân gian, đều thông qua con đường ngôn ngữ và chuyển tải đến người nghe, người đọc bao thế hệ. Đến với thơ Hồ Xuân Hương một lần nữa ta lại bắt gặp những hình ảnh đó trong thơ của bà nhưng dưới góc độ khác. "Đó là bà tiếp thu văn học dân gian chứ không lặp lại dân gian, bà chắt lọc những cái hay, cái đúng, cái đẹp của dân gian...xuất phát từ cội nguồn dân gian" [11,tr.111]. Khi đã tạo cho mình một truyền thống riêng, Hồ Xuân Hương nói riêng và văn học viết nói chung đều kế thừa, vận dụng, phát huy kho tàng văn học dân gian, làm cho tác phẩm càng thêm phong phú và mang đậm chiều sâu nhân văn nhân bản hơn. Tìm hiểu nét tương đồng và khác biệt giữa văn học dân gian với thơ Hồ Xuân Hương nói riêng trong cách sử dụng từ ngữ,  ta càng có cơ hội đi sâu về với cội nguồn dân tộc, với những truyền thống đạo lý, tập tục tốt đẹp của ông cha để qua đó có thái độ đúng đắn, phát huy những tinh hoa văn hóa nghìn năm văn hiến của dân tộc mình.

          Có  một câu chuyện kể rằng, một lần nhà thơ Tế Hanh về làng Tiên Điền quê hương của Nguyễn Du. Ông hỏi thăm một bà cụ có  biết Nguyễn Du tác giả của Truyện Kiều là ai không, bà cụ trả lời rằng không biết ông Nguyễn Du là ai mà chỉ biết cô Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du thôi. Tế Hanh đã kết luận một câu rằng: “Thơ văn trở thành của quần chúng đến mức quần chúng quên cả người làm ra nó. Đó mới là loại thơ văn chân chính”. Qua câu chuyện trên bài học để lại cho chúng ta, theo chúng tôi  dù thời gian có bào mòn đi tất cả cùng với những biến cố, thăng trầm của cuộc đời thì các tác phẩm văn học có giá trị và tác giả của nó sẽ sống mãi với nhân loại. Tâm hồn và lòng người vẫn sẽ là nơi cô đọng và lưu giữ lại được những sản phẩm chân chính, giàu giá trị nhân văn. Thơ Hồ Xuân Hương đã làm được điều đó. Nó đi vào quần chúng và lưu truyền như một tác phẩm dân gian theo quy luật của sáng tác dân gian. Những sáng tác đó đáp ứng được nỗi mong mỏi  của quần chúng nhân dân, nói được tiếng nói của nhân dân và mang phong cách sáng tác của nhân dân thì được nhân dân xem như sản phẩm của họ. Thơ Hồ Xuân Hương cũng hòa chung vào mạch nguồn đó. Dân gian có kiểu nói tục, nói lái (Truyện Trạng), các trò chơi truyền thống dân gian thì trong thơ Hồ Xuân Hương cũng có. Hay những ngôn ngữ bình dân, những lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân:

-   Này của Xuân Hương đã quyệt rồi.

                - Lại đây cho chị dạy làm thơ.

      - Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

      - Này chị em ơi chớ vội cười...

          Tất cả đều là mạch nguồn của dân gian mà ra cả, điều đó chứng tỏ rằng Hồ  Xuân Hương đã tiếp nhận một cách sâu sắc nguồn mạch dân gian. Thơ Hồ Xuân Hương đã hòa chung vào dòng chảy của văn hóa dân gian. Có người nhận định thơ Hồ Xuân Hương dâm và tục, có người cho rằng thơ bà chỉ có tục thôi không có dâm, có người nhận xét nặng nề hơn một chút là thơ Hồ Xuân Hương bị "khủng hoảng về tình dục"... Chúng tôi không nghĩ như vậy, thiết nghĩ rằng đó là cái tục trần thế, rất đỗi đời thường. Vả chăng chính vì sống trong một xã hội bị bóp nghẹt mọi quyền sống của người phụ nữ nên Hồ Xuân Hương đã dám đứng lên phản kháng lại. Thơ bà viết ra những lời nói tục mà thanh, cười mà đau đớn giàn giụa trong nước mắt và tủi nhục cho số phận nổi trôi của mình.

          Trong dân gian có nhiều truyện cười mang yếu tố tục như "Trời sinh ra thế", "Trạng dâng chúa cây cải"...Còn nói về nghệ thuật dân gian thì những bức tranh như "Hứng dừa", "Đánh ghen" hoặc các biểu tượng được khắc trên đá, trên gỗ ở chùa chiền, những nơi rất thiêng liêng cũng mạnh dạn phô bày nét tinh tế của người phụ nữ. Vậy ta có sự lý giải thế nào về điều này? Theo chúng tôi, những truyện như tiếu lâm, truyện cười, truyện trạng đến những bức tranh dân gian bên cạnh những yếu tố gây cười còn có một ý nghĩa cao hơn là phê phán, đả kích những thói hư tật xấu, những bất công của xã hội đương thời. Đến với thơ Hồ Xuân Hương cũng thế, có thể bà thấy được phần nào nỗi bất hạnh, thân phận bạc bẽo bởi tâm địa xảo trá "xanh như lá bạc như vôi" của các đấng mày râu, quân tử khiến bà có một thái độ gay gắt mà thốt ra những lời "tục" như vậy chăng ?!

          Vào dịp lễ hội, các trò chơi dân gian là nét sinh hoạt phổ biến của nhân dân ta từ rất xưa và là một nét văn hóa dân gian truyền thống của nhân dân ta. Người ta tổ chức các lễ hội một mặt với tinh thần là giải trí, lấy tiếng cười để biểu hiện cho niềm vui, quên đi những lo toan, bon chen trong chuyện cơm áo đời thường, mặt khác nó là cách chống lại mọi thứ ràng buộc của xã hội đối với con người. Người ta đã mạnh dạn tìm đến với cuộc sống phàm tục để lôi tất cả những cái gì mà nho giáo gọi là "thiêng liêng" không một chút ngại ngần. Thơ Hồ Xuân Hương phần nào thể hiện được điều đó.

Tiểu Kết:

          Hồ Xuân Hương là một tác giả đặc biệt trong văn học Việt Nam Trung đại. Đặc biệt bởi xã hội mà bà sinh ra, đặc biệt bởi thân phận của bà và đặc biệt bởi tài năng của bà về thơ Nôm. Thơ Nôm của bà sáng tác theo thể Đường thi nhưng lại sử dụng lối nói dân gian, ngôn liệu dân gian nên kết hợp được chất bác học và chất dân dã. Mục đích sáng tác văn học của bà là để khẳng định vai trò của người phụ nữ trong xã hội và phản kháng lại chế độ phong kiến thối nát nên dùng chất liệu dân gian là phương thức hữu hiệu nhất. Vì thế thơ bà đã hòa vào mạch nguồn dân gian hay nói cách khác là lấy từ nguồn nguyên liệu dân gian để sáng tác. Chính vì sự hòa quyện đó mà có những tác phẩm khó phân biệt đâu là thơ bà và đâu là thơ dân gian mà người đời sau gán cho bà. Hơn nữa, trong xã hội thời Lê Trịnh suy tàn, hiện tượng thay ngôi đổi chủ, lộn sòng trắng đen tốt xấu, mọi giá trị phải được định giá lại thì ý thức vùng lên của chị em phụ nữ lại càng mạnh mẽ và vì vậy, hiện tượng phản kháng xã hội bằng thơ kiểu như Hồ Xuân Hương không phải hiếm gặp. Đó cũng là lý do có nhiều giả thuyết về Hồ Xuân Hương. Nhưng dù sao thì điều cuối cùng mà nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận là có một bà chúa thơ Nôm với danh hiệu Hồ Xuân Hương.  

 Chương 2

ĐẶC TRƯNG NGÔN TỪ TRONG THƠ HỒ  XUÂN HƯƠNG

 

 

2.1. Các dạng thức sử dụng từ  ngữ trong thơ Hồ  Xuân Hương

2.1.1. Sử dụng từ láy

          Ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương bình dị như  chính cuộc sống đời thường vậy. Ngôn ngữ trong thơ bà phần lớn dùng ngôn ngữ bình dân, rất hạn chế sử dụng từ ngữ Hán Việt. Sở dĩ như vậy bởi vì bản thân Hồ Xuân Hương chất chứa những tố chất thuần Việt của con người Việt Nam chất phác, mộc mạc; không khoa trương, không xa lạ với thứ ngôn ngữ của quần chúng nhân dân đa nghĩa, điêu luyện. Thật là tài tình, dân gian mà cổ điển, điêu luyện mà rất đỗi hồn nhiên. Thực thực, hư hư, đùa mà như thật, thật mà như đùa...Tất cả đã kiến tạo nên một hồn thơ Hồ Xuân Hương mang đậm phong vị quê hương, mang nhiều âm hưởng của ngôn ngữ dân gian truyền thống.

          Từ  láy là từ loại được sử dụng rộng rãi trong dân gian nói chung và trong thơ Hồ Xuân Hương nói riêng. Theo thống kê của Lã Nhân Thìn trong tổng số 268 câu thơ có 79 từ láy (chiếm 29,4%). Từ láy trong thơ có nhiều tác dụng, nó có chức năng hạn chế tính công thức ước lệ, làm cho câu thơ trở nên biểu cảm hơn, đậm tính dân tộc hơn và góp phần thể hiện phong cách tác giả. Thơ Hồ Xuân Hương là thơ của sức sống của chân đạp, tay vung, thơ của nhịp điệu cơ thể và cuộc sống con người, thơ của tâm trạng. Từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương thường có tác dụng biểu lộ tình cảm, thể hiện con người tác giả.

 2.1.1.1. Đặc điểm cấu tạo

a. Từ láy hai âm tiết hay láy  đôi

a1. Từ láy phụ âm đầu:

   - Da nó xù xì, múi nó dày

   - Xin đừng mân mó nhựa ra tay

   - Nâng niu ướm hỏi người trong trướng

   - Dắt díu nhau lên đến cửa chiền

   - Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi

   - Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

   - Trước nghe những tiếng thêm  rầu rĩ

   - Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

   - Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi

   - Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt

   - Cha kiếp đường tu sao lắt léo

   - Giọt nước hữu tình rơi  thánh thót

   - Luồng gió thông reo vỗ  phập phòm

   - Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm

   - Đường đi thiên thẹo quán cheo leo

   - Đầm đìa lá liễu giọt sương reo

   - Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc

   - Giếng tốt thảnh thơi, giếng lạ lùng

   - Lợp lều mái cỏ tranh xơ xác

   - Đứng chéo trông theo cảnh hắt heo

   - Khiến người quân tử hiền nhân ngại ngùng

                      - Con cò mấp máy suốt đêm thâu

                      - Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả

a2. Từ láy phần vần:

   - Sóng dồn mặt nước vỗ  long bong

   - Ai về nhắn bảo phường lòi tói

   - Con thuyền vô trạo cúi  lom khom

                       - Lách khe nước rỉ mó lam nham

   - Kẽ hầm rêu mốc trơ  toen hoẻn

   - Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo

   - Giọt nước hữu tình rơi  lõm bõm

   - Cửu son đỏ loét tùm hum nóc

   - Một dòng nước biếc cảnh leo teo

   - Cỏ gà lún phún leo quanh mép

   - Cá diếc le te lách giữa dòng

   a3. Từ láy phần vần và phụ âm đầu:

   - Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi!

   - Thương chồng nên mới khóc  tỉ ti

   - Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

   - Sau giận vì duyên để  mõm mòm

   - Nước trong leo lẻo một dòng thông

          a4. Từ láy hoàn toàn, chủ yếu là láy từ:

   - Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm

   - Con đường vô ngạn tối  om om

   - Lâng lâng chẳng bợn chút lòng ai

   - Cầu trắng phau phau đôi ván ghép

   - Đố ai thả nạ dòng dòng

   - Trai đu gối hạc khom khom cật

   - Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng

   - Hai hàng chân ngọc duỗi song song

                       - Hai chân đạp xuống năng năng nhắc

                     - Một suốt đâm ngang thích thích mau

   - Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa

   - Mảnh tình san sẻ tý con con

   - Thương chồng nên nỗi khóc ti ti

   - Trống mang dùi cắp đã phanh phanh

           b. Từ láy ba âm tiết trở lên

   - Vị gì một tý tẻo tèo teo

   - Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom

2.1.1.2. Phương diện biểu hiện

          a. Từ láy tạo thanh

                    - Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

   - Giọt nước hữu tình rơi thánh thót

   - Sóng dồn mặt nước vỗ  long bong

   - Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

   - Thương chồng nên mới khóc  tỉ ti

   - Giọt nước hữu tình rơi  lõm bõm

           b. Từ láy tạo hình

           b1. Màu sắc:

   - Cầu trắng phau phau đôi ván ghép

   - Con đường vô ngạn tối  om om

   - Nước trong leo lẻo một dòng thông

          b2. Hình dáng:

   - Da nó xù xì, múi nó dày

   - Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé

   - Đố ai thả nạ dòng dòng

   - Trai đu gối hạc khom khom cật

   - Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng

   - Hai hàng chân ngọc duỗi song song

   - Sau giận vì duyên để  mõm mòm

   - Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi!

   - Cửu son đỏ loét tùm hum nóc

   - Cỏ gà lún phún leo quanh mép

                    - Lách khe nước rỉ mó  lam nham

   - Kẽ hầm rêu mốc trơ  toen hoẻn

   - Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo

   - Con thuyền vô trạo cúi  lom khom

   - Vị gì một tý tẻo tèo teo

   - Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom

          c. Từ láy thể hiện hành động, trạng thái tính chất

           c1. Từ láy thể hiện trạng thái, tính chất:

      - Hai chân đạp xuống năng năng nhắc

      - Một suốt đâm ngang thích thích mau

      - Lâng lâng chẳng bợn chút lòng ai

      - Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm

      - Cá diếc le te lách giữa dòng

   - Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc

   - Giếng tốt thảnh thơi, giếng lạ lùng

   - Lợp lều mái cỏ tranh xơ xác

   - Đứng chéo trông theo cảnh hắt heo

   - Khiến người quân tử hiền nhân ngại ngùng

        - Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả,

        - Đầm đìa lá liễu giọt sương reo

        - Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc

        - Trước nghe những tiếng thêm  rầu rĩ

- Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

- Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt

- Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi

- Của em bưng bít vẫn bùi ngùi

          C2. Từ láy thể hiện hành động:

   - Xin đừng mân mó nhựa ra tay

   - Nâng niu ướm hỏi người trong trướng

   - Dắt díu nhau lên đến cửa chiền

   - Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi

   - Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa

                     - Con cò mấp máy suốt đêm thâu

Qua các dạng và phương diện biểu hiện của từ láy, chúng tôi nhận thấy rằng Hồ Xuân Hương chủ yếu sử dụng phương diện từ láy thể hiện hình dáng và trạng thái tính chất sự vật. Đây là các bộ phận từ láy thể hiện được đặc điểm sự vật, có giá trị biểu cảm cao. Các từ láy mà Hồ Xuân Hương dùng thường rất “đắc địa”, nó sắc thái riêng, rất Xuân Hương vì đặt đúng vào hoàn cảnh, được kết hợp trong ngữ biểu đạt đắc dụng.

2.1.1.3. Giá trị biểu đạt của từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương

          Có bao giờ ta tự đặt câu hỏi tại sao trong thơ Hồ Xuân Hương lại sử dụng nhiều từ láy đến vậy? Một phần đó là thứ ngôn ngữ được sử dụng khá phổ biến trong thơ ca dân tộc, hơn nữa từ láy bản thân nó còn mang lại giá trị biểu đạt rất cao. Nghĩa của từ láy khá phong phú, lấp lửng rất phù hợp với lối thơ nghịch ngợm, bông đùa. Điều đó đã góp phần làm cho câu thơ mang nhiều tầng nghĩa : Biểu lộ tình cảm, khắc họa hình tượng, đường nét, hình ảnh một cách rõ nét và phong phú hơn. Nó làm cho người đọc vừa dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ. Điều đó phần nào đã tạo nên một phong cách thơ Hồ Xuân Hương khó trộn lẫn với bất cứ nhà thơ đương thời nào.

          Đọc thơ Hồ Xuân Hương, tôi có cảm giác đó như là thứ khẩu ngữ được thoát ra từ cửa miệng của những người nông dân sau lũy tre làng. Sao mà mộc mạc, dung dị, thiết tha đến vậy! Chúng ta thử đọc kỹ những từ ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương đã sử dụng, đặc biệt chú ý đến những từ láy, ta thấy có nhiều sự trùng hợp trong cách sử dụng từ ngữ, cách gieo vần. Phải chăng sự ngạc nhiên của bạn đọc chính là dụng ý của tác giả? Nếu quả thật đúng như vậy thì Hồ Xuân Hương quả thật là nhà thơ rất tài tình. Trong số các từ láy mà chúng tôi đã khảo sát trong tuyển tập thơ Nôm Hồ Xuân Hương do Ngô Lăng Vân biên soạn. Chúng tôi thấy rằng có rất nhiều từ láy mà Hồ Xuân Hương đã gieo cùng một khuôn vần. Điều đó tạo nên một giá trị biểu đạt rất cao trong việc sử dụng từ ngữ với những dụng ý riêng của mình.

          Về  phương diện biểu hiện, Hồ Xuân Hương chú ý đến các từ láy tạo hình và trạng thái, tính chất của sự vật, hiện tượng. Những từ láy mà Hồ Xuân Hương sử dụng thường gây ấn tượng mạnh. Một số từ do tác giả sáng tạo ra như mõm mòm, hắt heo, hỏm hòm hom, nhưng phần lớn là sử dụng trong kho tàng từ láy tiếng Việt. Tuy nhiên, do biết kết hợp trong một ngữ  cảnh hay ngôn cảnh điển hình nên có giá trị biểu cảm lớn. Tiếng "văng vẳng" trong đêm khuya thật ai oán, làm ta liên tưởng đến một không gian thanh vắng, tĩnh mịch gợi trong lòng một nỗi buồn, cô đơn. Nó liên kết với các âm thanh "om om", "phập phòm", "thăm thẳm", "cheo leo", "leo teo" biểu đạt không khí "sầu", "thảm" bao trùm vũ trụ và nặng nỗi đắng cay. Một sự cô đơn rờn rợn, những tiếng ca "rầu rĩ" ấy luôn bị chôn chặt bởi những âm thanh trái ngược tạo nên sự xung đột trong nhạc điệu của bài thơ. Những từ láy "mõm mòm", "long bong", "hắt heo", "leo teo"...thể hiện sự mòn mỏi, hiu hắt, buồn bã cũng giống như thân phận người đàn bà lỡ làng, đau khổ, bấp bênh.   

          Các từ "nho nhỏ", "xù xì", "mân mó", "tỉ ti", "phì phạch", ...là những từ láy mang phong cách rất riêng, nó làm cho những câu thơ của Hồ Xuân Hương vốn tinh quái lại càng trở nên kì lạ hơn. Những âm thanh độc đáo, mọi vật như đang chuyển động, sinh sôi, nảy nở...

          Khuôn vần "eo" dùng để cấu tạo một số từ láy miêu tả tâm trạng buồn rầu, nhỏ bé, hiu quạnh, hàm ý chỉ sự khó khăn cách trở: Cheo leo, hắt heo, khéo khéo, leo teo, leo léo, tẻo tèo teo, lộn lèo, lắt lẻo...Trong bài thơ "Quán nước bên đường" Khuôn vần "eo" đã được bà sử dụng đến bốn lần :"hắt heo, leo teo, cheo leo, lộn lèo". Bài thơ là một loạt những cảnh tượng thật buồn, vắng lặng, heo hắt, con đường làng thì quanh co, nhà cửa thì tiêu điều, xơ xác, con người thì "leo teo", thưa thớt ...Tất cả hiện lên là một bức tranh thôn quê  thật nghèo nàn, xác xơ. Chỉ bằng một khuôn vần "eo" với sự thông minh, khéo léo Hồ Xuân Hương đã tạo nên một loạt từ láy mang nhiều cung bậc của cảm xúc đem lại giá trị biểu đạt cao, nhằm đưa đến cho người đọc có một cảm giác man mác buồn, cô đơn, vắng lặng. Bên cạnh đó khuôn vần "om" cũng đã được Hồ Xuân Hương sử dụng khá nhiều trong các sáng tác của mình. Nếu như khuôn vần "eo", biểu hiện cảm giác buồn thì khuôn vần "om" lại biểu thị một ý nghĩa khác, nó thể hiện sự dở dang "Sau giận vì duyên để mõm mòm" (Ngẫu cảm), không vững vàng, yếu ớt  "Đứng lom khom"  (Trăng thu). Ở đây ta thấy nghĩa của từ láy biểu thị ở một mức độ mạnh hơn so với hình vị gốc : “Hỏm hòm hom, lõm bõm, om om, mõm mòm, phập phòm”...Điều đó cho thấy mức độ ngữ nghĩa cứ tăng dần lên, biểu thị sự gấp gáp, cuống quýt, dồn nén, một cảm giác như muốn nổ tung ra, bung ra, phơi bày ra tất cả để người đọc có thể hình dung một cách bao quát nhất. Phải chăng đó là con người Hồ Xuân Hương, một người không bao giờ tự bó hẹp mình trong một khuôn khổ, phạm vi nào cả mà lúc nào bà cũng tự đặt mình ngang hàng với các đấng mày râu để nói lên tiếng nói phê phán đả kích, châm biến xã hội bảo vệ quyền sống, quyền bình đẳng cho những người phụ nữ vốn chịu nhiều thiệt thòi, khổ đau. Đó mới chính là bản ngã Hồ Xuân Hương.

          Khuôn vần "un" "um" dùng để cấu tạo một số từ mang nghĩa tập hợp nhiều sự vật, nhiều biểu hiện ở cả dáng vẻ và hành vi : Tùm hum, lún phún, um tùm, khúm núm. "Cửa son đỏ loét tùm hum nóc, hòn đá xanh rì lún phún rêu" (Đèo Ba Dội). Câu thơ thể hiện rõ gam màu "đỏ tùm hum", với hàng loạt những rêu xanh đang mọc "lún phún" trên đỉnh đèo. Bên cạnh lớp nghĩa đen là miêu tả cảnh vật hoang sơ, thanh tịnh, cảnh núi non hiểm trở của đèo của hang. Nhà thơ còn ngầm sử dụng một lớp nghĩa bóng đó là những hình ảnh biểu hiện tính phồn thực. Hình ảnh đèo, hang, giếng nước...đó chính là những bộ phận trên cơ thể người phụ nữ, một sự kết hợp âm dương hài hòa, mang đậm giá trị nhân văn nhân bản.

          Như vậy, qua những dẫn chứng vừa chứng minh trên đây, ta đã phần nào thấy được giá trị biểu đạt mà từ láy mang lại là rất lớn, điều đó phần nào thể hiện được nội dung, mục đích, hàm ý mà tác giả muốn chuyển tải đến người đọc để từ đó người đọc có được cái nhìn bao quát hơn, sâu sắc hơn đối với tác phẩm mà họ được tiếp cận. Một lần nữa lại chứng minh cho sự tài tình, táo bạo, thông minh, sắc sảo trong việc sáng tạo nên những từ ngữ vừa gần gũi, dễ hiểu với quần chúng nhân dân, vừa đa thanh, đa nghĩa. Vì lẽ đó mà cho đến nay, dù đã trải qua hàng trăm năm lịch sử nhưng thơ của bà chúa Hồ Xuân Hương vẫn luôn tạo được dấu ấn mạnh mẽ trong lòng những độc giả thuộc nhiều tầng lớp khác nhau. 

2.1.2. Sử dụng hình thức chơi chữ  và nói lái

          Chơi chữ cũng là một trong những biện pháp tu từ  quen thuộc được sử dụng trong nghệ thuật văn chương. Chơi chữ là một biện pháp nghệ thuật trữ tình đặc sắc. Hồ Xuân Hương đã sử dụng lối chơi chữ để biểu hiện các sự vật sự việc mà bà đang đề cập đến. Hai thủ pháp cơ bản trong cách chơi chữ của Hồ Xuân Hương là lối nói lái và chiết tự Hán. Hai thủ pháp này đã góp phần tạo nên dấu ấn đặc sắc trong việc thể hiện nội dung, chủ đề tư tưởng Hồ Xuân Hương.

           Bài thơ Không chồng mà chửa, Hồ Xuân Hương đã khéo léo sử dụng lối chiết tự tả thực trạng cô gái không chồng mà chửa. Nghĩa là một trò tiểu xảo của sĩ tử ngày xưa không hay ho gì, có khi rất đáng ghét. Nhưng một khi đã vào tay Hồ Xuân Hương không  chỉ thuần túy là một lối chơi chữ mà là một nỗi lòng chua chát:

        “Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc”. Chữ thiên () nếu thêm một nét dọc sẽ thành chữ phu (), là chồng. “Phận liễu sao đà nảy nét ngang”. Chữ liễu (   ), thêm một nét ngang thành chữ tử (), là con.

          Trong hai câu thơ sau, tác giả đã dùng chữ “chửa” và chữ “mang” ở cuối câu đều là những chữ có thể hiểu hai nghĩa:

   Cái nghĩa trăm năm chàng có chửa?

   Mảnh tình một khối thiếp xin mang.

          Từ “chửa” vừa có nghĩa “chưa”, vừa mang nghĩa “có thai”, vừa “mang” vừa có nghĩa “có bầu, mang thai”, vừa có nghĩa  “xin chịu, chấp nhận, gánh vác”.

          Dùng từ Hán Việt:

                        Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo

   Cay đắng chàng ơi vị quế chi

   Thạch nhũ, trần bì sao để lại.  

      (Bà lang khóc chồng)

          Cam thảo, quế chi, thạch nhũ, trần bì” là những từ chỉ vị thuốc nhằm tạo ra tính hai nghĩa cho câu thơ. Một mặt giúp người đọc tiếp nhận theo đúng nghĩa đen, mặt khác lại khiến cho người đọc liên tưởng đến tầng nghĩa sâu xa hơn. Phải chăng đó chính là những "sản phẩm" đáng được trân trọng mà trời đã ban cho các chị em phụ nữ chúng ta?

          Trong bài thơ "Khóc tổng cóc", nghệ thuật chơi chữ ở đây là sử dụng một lớp từ đồng nghĩa hay đúng hơn là trong một trường nghĩa chỉ các con vật lưỡng cư: cóc, chàng (chẫu, chàng), bén (nhái), nòng nọc, chuộc (chuộc chuộc), thể hiện độc đáo và cảm động nỗi đau khổ, tuyệt vọng của người vợ trước tang chồng.

          Thủ  pháp thứ hai được tác giả hay sử dụng là  lối nói lái, rõ ràng là có liên hệ trực tiếp với hàng loạt những hiện tượng ngôn ngữ trong sinh hoạt cộng đồng người việt:

   - Cái kiếp tu hành nặng đá đeo

   - Trái gió cho nên phải lộn lèo

   - Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo

   - Chày kình tiểu để  suông không đấm

   - Bá ngọ con ong bé cái lầm

   - Đét dồn lên đánh cuộc cờ người...

          Hồ  Xuân Hương sử dụng lối nói ỡm ờ, lấp lửng:

   - Hiền nhân quân tử ai mà  chẳng

   - Chúa dấu vua yêu một cái này

   - Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa

   - Đá kia còn biết xuân già  dặn

   - Chả trách người ta lúc trẻ  trung

          Nói  úp mở:

   - Vị gì một chút tẻo tèo teo

   - Càng nóng bao nhiêu thời càng mát

   - Thịt da đâu cũng thế mà  thôi

   - Của em bưng bít vẫn bùi ngùi

   - Chiến đứng không thôi lại chiến ngồi...

          "Nếu như Nguyễn Du đã mượn thể lục bát của dân gian hoàn thiện và đưa nó lên đỉnh cao của ngôn ngữ bác học, Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Gia Thiều hoàn thiện thể song thất lục bát, bà  Huyện Thanh Quan đã hoàn thiện thể thơ nôm  đường luật  thì Hồ Xuân Hương không những đã hoàn thiện chúng mà còn sáng tạo ra một loại thơ Đường luật mới" [11, tr. 95]. Đó không chỉ là giới hạn ở sự Việt hóa thể thơ Trung Quốc mà điều quan trọng là trong quá trình sử dụng và đưa vào thơ mình, Hồ Xuân Hương đã dựa vào tính đơn âm và đa thanh của tiếng việt sát gần với tiếng Hán mà vẫn giữ nguyên  thể loại đảm bảo sự hài hòa, cân đối như một khối nền đa âm thanh và đa màu sắc.

          Hồ  Xuân Hương sử dụng lối chơi chữ, lối nói lái một cách rộng rãi. Nhưng lối chơi chữ, nói lái của Hồ  Xuân Hương không phải như của bọn nho sĩ phong kiến, chơi chữ là chơi chữ nho nhằm để khoe chữ, phô trương tri thức sách vở. Còn Xuân Hương chơi chữ hoặc để trào lộng, hoặc mỉa mai châm biếm làm cho câu thơ trở nên "duyên dáng" vô cùng. Xuân Hương là nhà thi sĩ độc nhất dùng những lời nói rất đỗi đời thường, nôm na, giản dị vào trong thơ và lại rất khéo rất táo bạo. Xuân Hương cũng là nhà thi sĩ độc nhất có ngòi bút tả thực rất độc đáo và sắc sảo thật đúng là một ngòi bút trào lộng bậc thầy của văn học Việt Nam trung đại.

2.1.3. Sử dụng cách nói của dân gian trong ca dao, thành ngữ, tục ngữ 

2.1.3.1. Cách sử dụng ca dao, thành ngữ, tục ngữ

           Nếu như tục ngữ là những câu nói mang đặc điểm ngắn gọn, súc tích có hình ảnh giàu vần điệu nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức thực tiễn về  tất cả mọi lĩnh vực của đời sống con người và cuộc đấu tranh sinh tồn của nhân dân lao động, thì thành ngữ là những đoạn câu, cụm từ tương đối ổn định, bền vững nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hấp dẫn có tác dụng tô điểm và nhấn mạnh ý nghĩa của những từ cần diễn đạt.

          Qua sự khảo sát tập thơ nôm Hồ Xuân Hương do Ngô Lang Vân tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Thanh Hóa, (2003), chúng tôi đã phát hiện được trường hợp có xuất hiện các yếu tố thành ngữ, tục ngữ trong câu (chiếm 30%). Cụ thể có 7 bài vận dụng thành ngữ, 7 bài vận dụng tục ngữ và 1 bài phối hợp cả thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt. Việc đưa tục ngữ, thành ngữ vào tác phẩm đã được nhà thơ xử lý rất tinh tế tài tình và nhuần nhuyễn.

          Các thành ngữ như:

   - Bảy nổi ba chìm trong câu thơ " Bảy nổi ba chìm với nước non"

   - Bạc như vôi, Xanh như lá trong câu thơ "Đừng xanh như lá bạc như vôi"

   - Cố đấm ăn xôi trong câu "Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm"

   - Năm thì mười họa trong câu thơ "Năm thì mười họa chăng hay chớ"

   - Nặng như đá đeo trong câu thơ "Cái kiếp tu hành nặng đá đeo"

          Trong quá trình tiếp thu và vận dụng thành ngữ  vào sáng tạo nghệ thuật. Có nhiều bài thơ  chỉ sử dụng một phần của thành ngữ 

          - "Đỏ lòng xanh vỏ""đỏ như son" trong "Bánh trôi nước"

          - "Có tiếng không có miếng""gặp chăng hay chớ" "làm mướn không công" trong "Làm mướn".

   - "Giống như in" trong "Tranh tố nữ"

   - "Nói dối như cuội" trong "Vịnh trăng"...

          Nhờ  việc vận dụng phương pháp và linh hoạt các thành ngữ tiếng Việt trong sáng tạo nghệ thuật, Hồ  Xuân Hương đã làm nhấn mạnh rõ hơn ý nghĩa của các từ cần biểu đạt trong từng câu thơ mà bà đã đề cập đến nhằm tạo cho câu thơ thêm sinh động, đa dạng hấp dẫn.

          Đến với bài thơ "Bánh trôi nước", qua việc sử dụng thành ngữ tiếng Việt, Hồ Xuân Hương đã thể hiện rõ một quan niệm tiến bộ đó là con người (người phụ nữ) dù cuộc sống có gặp muôn và khó khăn, gian khổ, tưởng chừng như là ngõ cụt buộc phải đầu hàng số phận nhưng đằng sau tấm thân mảnh mai, yếu ớt ấy là một sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của người phụ nữ luôn có ý thức tự vươn lên trước sự nghiệt ngã của cuộc đời. Hay trong bài thơ "Làm lẽ", Hồ Xuân Hương đã phản ánh chân thực và xúc động những thiệt thòi, bất hạnh của người phụ nữ trong thân phận làm lẽ mọn. Tỏ thái độ bất bình, phản kháng chế độ đa thê (Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng) một tập tục đã ngự trị dai dẳng và nghiệt ngã trong xã hội phong kiến...

          Hồ Xuân Hương đã vận dụng ý tưởng từ những tục ngữ, thành ngữ và ca dao một cách triệt để vào thơ của mình. Bà không sử dụng hoàn toàn câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ của dân gian mà chỉ chắt lọc lấy những chi tiết nổi bật, cần thiết từ những từ ngữ, thành ngữ; qua đó bộc lộ tình cảm và cảm xúc của nhà thơ.

      - Vận dụng câu thành ngữ "Nảy nòi nòng nọc" hay “Nòng nọc đứt đuôi” để sáng tạo câu thơ "Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé" (Khóc Tổng Cóc).

      - Vận dụng câu ca dao "Không chồng mà chửa mới ngoan, có chồng mà chủa thế gian sự thường" rồi rút gọn thành "Không có mà có mới ngoan"  (Không chồng mà chửa).

      - Vận dụng câu tục ngữ "Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu" với câu thơ "Chúa dấu vua yêu một cái này" (Vịnh cái quạt).

      -  Vận dụng ý tưởng “ngủ ngày” trong câu tục ngữ "Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm" để làm bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày”. Bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày ta thấy Hồ Xuân Hương đã vẽ ra những nét chấm phá rất "hoàn thiện" và "toàn bích" trước vẻ đẹp trên thân thể của người thiếu nữ. Trong tục ngữ và theo lối suy nghĩ của nhân dân ta, kẻ hay ngủ ngày là những kẻ lười nhác, đây là thói quen xấu cần phải phê phán. Đến với Xuân Hương lại khác, khai thác ở một khía cạnh ngủ ngày nhưng ở một tư thế rất đẹp, đầy sức thanh xuân:

   Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm,

   Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông.

          Bồng Đảo, Đào Nguyên là cảnh tiên, cái đẹp lý  tưởng. Đôi gò đẹp tròn căng trên nương long ấy là đôi Bồng Đảo, cái lạch bên dưới là một lạch Đào Nguyên. Cả hai đều là tiên cảnh, ở đó là một sự sống tràn đầy, đây chính là cái đẹp hình thể – Cái đẹp của sự sống. Giống như Puskin đã nói "Cái đẹp không chỉ ở đôi má hồng của người phụ nữ mà ở trong đôi mắt của kẻ si tình".

 

2.1.3.2. Giá trị biểu đạt từ cách vận dụng cách nói dân gian

          Từ những dẫn chứng trên, ta có thể dễ dàng nhận ra rằng Hồ Xuân Hương đã vận dụng ca dao, thành ngữ, tục ngữ dân gian để đưa vào thơ qua hai phương thức chủ yếu. Một mặt là Hồ Xuân Hương đã vận dụng thành ngữ, tục ngữ dân gian một cách trực tiếp, có nghĩa là bà đã trích dẫn nguyên văn thành ngữ, tục ngữ của dân gian " Xanh như lá, bạc như vôi" trong câu "Đừng xanh như lá bạc như vôi" (Mời trầu), "Nòng nọc đứt đuôi" trong câu "Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé"   ( Khóc tổng cóc), "Năm thì mười họa " trong câu "Năm thì mười họa chăng hay chớ", "Cố đấm ăn xôi" trong câu "Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm" (Cảnh làm lẽ). Việc vận dụng tục ngữ, thành ngữ vào trong thơ sao cho hợp lý và phù hợp với nội dung, tư tưởng chủ đạo của bài thơ, phải làm sao để bố cục trong câu thơ không lủng củng, xáo trộn và tối nghĩa. Điều đó buộc tác giả sản sinh ra những bài thơ đó phải là người có vốn từ ngữ dân tộc khá phong phú, đồng thời cũng phải tinh tế trong cách xử lý ngôn từ, cụm từ cố định để khi đưa vào thơ tạo cho câu thơ có sự liền mạch, súc tích không bị gượng ép về nghĩa và vần điệu,vừa không bị cứng nhắc, xáo trộn. Điều đó đã được Hồ Xuân Hương xử lý một cách thật tài tình. Trong bài thơ Chợ trời (Chơi chợ chùa Thầy), bài thơ đã miêu tả khung cảnh chợ chùa Thầy tức chùa Hương Tích ở Mỹ Đức tỉnh Hà Đông (cũ) nay thuộc thành phố Hà Nội. Bài thơ là lời đả kích, châm biếm những kẻ sĩ vốn mang danh tri thức nhưng thực ra trong đầu lại rỗng tếch, một chữ cắn đôi cũng không có. Câu thơ mang đậm tính hài hước, phê phán sâu cay những kẻ mang danh hão, dựa  vào thế lực của đồng tiền chúng có thể "Bán lợi mua danh" một cách ngang nhiên, trắng trợn. Thành ngữ dân tộc ta cũng có một câu "mua danh bán lợi" hàm ý chê bai những kẻ dốt đội lốt mình có học vấn cao, uyên thâm.

          Hồ Xuân Hương đã biết vận dụng một cách thật hợp với logic tự nhiên, đồng thời tạo nên một dấu ấn rất riêng trong lòng người đọc qua việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ vào thơ mình. Bài thơ Làm lẽ lại là một minh chứng khác. Bài thơ chính là tiếng lòng được thốt lên từ những thân phận hẩm hiu, thua thiệt phải chịu cảnh làm lẽ, bị người khác xỉ nhục, chà đạp. Cũng là cảnh đi làm vợ người mà sao họ bị ghẻ lạnh, bị phân biệt đối xử không khác gì một con mướn đi làm thuê, thật đáng thương tâm. Hai câu thơ trong bài Làm lẽ "Năm thì mười họa" trong câu "Năm thì mười họa chăng hay chớ", "Cố đấm ăn xôi" trong câu "Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm". Từ những điều mà chúng ta vừa phân tích trên, ta thấy thành ngữ, tục ngữ dân gian bản thân nó đã mang lại giá trị biểu đạt cao không chỉ về nội dung, ý nghĩa, tư tưởng. Ngôn ngữ dân gian nói chung, thành ngữ, tục ngữ nói riêng có một vai trò quan trọng không chỉ trong đời sống ngôn ngữ nói hàng ngày mà còn cả trong ngôn ngữ viết. Những câu thành ngữ, tục ngữ của dân gian đã được Hồ Xuân Hương nhào nặn, gọt giũa thành đứa con tinh thần của mình. Để những câu thơ đó vừa mang lại giá trị ngữ nghĩa vừa chuyển tải hết hàm nghĩa của nó mà không làm phai nhạt đi ngôn ngữ của dân gian thì quả thực không hề đơn giản một chút nào. Ta biết rằng thành ngữ, tục ngữ là tổ hợp từ cố định rất dễ nhớ, dễ thuộc chứa đựng tính khái quát cao, mang tính giáo dục, khuyên răn là rất lớn. Vì thế thành ngữ, tục ngữ xuất hiện trong thơ nó đem đến cho câu thơ một cảm giác gần gũi, giản dị, mộc mạc. Đồng thời bản thân nó cũng mang nhiều tầng ý nghĩa thông qua liên tưởng, tư duy của bạn đọc. Điều đó không có nghĩa là ta phủ nhận tất cả những giá trị của một nền văn chương dân tộc vốn đã trải qua hàng trăm năm lịch sử, thứ ngôn ngữ mà tất cả chúng ta từ khi ra đời ai cũng phải được học tập và được tiếp xúc hàng ngày. Điều đáng nói ở đây chính là thông qua học hỏi, tìm hiểu chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp vốn có của ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt là giúp chúng ta thấy được năng lực, sáng tạo trong việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ dân gian của Bà chúa thơ Nôm.

          Ngôn ngữ dân gian nói chung, thành ngữ tục ngữ nói riêng có một vai trò, giá trị tinh thần rất lớn trong đời sống, ngôn ngữ nói hàng ngày và cả trong ngôn ngữ Việt. Tục ngữ, thành ngữ qua ngòi bút của Hồ Xuân Hương đã trở thành một công cụ hữu hiệu trong việc tạo hình, tạo nghĩa cho thơ ca. Khi nó được xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương tạo một cảm giác gần gũi, bình dị, mộc mạc và sát hơn với ngôn ngữ của quần chúng nhân dân. Đó là lý do vì sao ta hay gọi Hồ Xuân Hương là nhà thơ nôm na bởi như thế. Hồ Xuân Hương đã tìm về với ngọn nguồn thi liệu xưa, ngọn nguồn của thành ngữ, tục ngữ. Đến đây tâm hồn nhà thơ đã hòa cùng với nhịp đập quần chúng nhân dân lao động, chan chứa phong vị đồng quê dân giã.

2.2. Các phương thức biểu đạt

2.2.1. Các thủ pháp tương phản

          Hồ  Xuân Hương còn sử dụng thủ pháp tương phản  để tạo nên những nét nổi bật. Trong bài thơ "Mời Trầu" Hồ Xuân Hương đã mượn màu sắc thắm đỏ của miếng trầu đối lập với màu xanh của lá trầu, với màu trắng của sắc vôi thể hiện một ước mơ đi đến một cái gì đó thắm tươi, đậm đà như duyên chồng vợ chứ không đơn thuần chỉ là lá, là vôi. Nó như một lời nhắn nhủ, một khát vọng thủy chung, muốn đi đến hôn nhân hạnh phúc. Đồng thời từ sự tách biệt của “vôi trắng, lá xanh”, nhà thơ cũng dự cảm đến của sự hờ hững bạc bẽo về đường tình duyên long đong, trắc trở. Phải chăng bà quá nhạy cảm đôi khi đến nghiệt ngã nên nỗi đắng cay, khổ cực cứ bám riết cuộc đời bà!

          Hồ  Xuân Hương đã triệt để sử dụng những cặp từ đối ứng nhau, như: "Trai/gái, trên/dưới, giữa/ngoài, chành ra/khép lại"... Những cặp đối ứng nhau như vậy, ngoài sự khớp nghĩa giữa từng câu thơ còn gợi nên những cặp đôi khác như đực/cái, nam/nữ, âm/dương tạo thành nghĩa lấp lửng. "Câu thơ Hồ Xuân Hương khác với thơ Đường chính hiệu thuộc về câu phán đoán, lại là câu trần thuật miêu tả. Nó không sử dụng hư từ làm chất kết nối mà sử dụng sự đăng đối" [11, tr. 97]:

          Kiểu cấu trúc đăng đối “không mà có, có mà không”:

- Những kẻ không/ mà có mới ngoan

- Mõ thảm không khua/ mà  cũng  cốc

- Chuông sầu không đánh/ cớ sao om

          - Chôn chặt văn chương ba thước đất / Tung hô hồ thỉ bốn phương trời.

Ba câu trên theo kiểu “không mà có”: không mà có (cũng, cớ), câu cuối theo kiểu “có mà không”: chôn chặt nhưng lại tung hô, giam hãm nhưng không giam hãm được.

          "Câu thơ của Hồ Xuân Hương là chính đối, không chỉ đối nhau về nghĩa, về từ loại, bằng trắc mà cả nhịp điệu nữa. Nhịp  điệu vừa song hành, vừa đối dụng với nhau như chính là nhịp điệu của con người đang thực hành cái nghi thức để sản sinh ra muôn vật vậy, đó phải chăng cũng là nhịp điệu của vũ trụ?" [11, tr.97].

          Trong những bài thơ thể hiện nỗi đau, nỗi buồn cho thân phận, Hồ Xuân Hương cũng sử dụng phép so sánh, miêu tả rất thành công, đó là hình ảnh của những người vợ lẽ cô đơn, lẻ  loi chịu nhiều thiệt thòi đối lập với người vợ  cả tròn đầy, ấm áp. Cái ấm áp của người vợ cả "kẻ đắp chăn bông" còn cái lạnh lùng của người vợ lẽ với sự hẩm hiu "kẻ lạnh lùng, năm thì mười họa, cố đấm ăn xôi, làm mướn không công...". Cái khổ của người vợ lẽ là vô cùng, họ chẳng khác gì con đòi đứa ở. Cái khổ ấy không chỉ khổ về vật chất nữa mà còn là cái tủi nhục, suy cho cùng đó không chỉ là nỗi đau của riêng ai mà đó là tiếng khóc chung của nhân loại khóc cho những người phụ nữ kém may mắn trong cuộc đời này.

           Ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương như đã nói  ở trên, đã sử dụng đậm đặc từ chỉ  hành động cơ năng, tính từ chỉ tính chất và mức độ, dùng nhiều từ láy.  Thành ngữ, tục ngữ, ca dao được tác giả sử dụng sáng tạo, bị bẻ vụn đan cài vào, cả những tiếng chưởi rủa nên đã khắc họa được rõ nét sự sống ở nhiều dạng vẻ khác nhau một cách cụ thể, gây cảm giác và ấn tượng mạnh. Điều này đã làm mất đi, ít nhiều là vẻ bề ngoài những ấn tượng ban đầu, tính chất thuần nhất của thể loại thơ Đường, mất đi tính trang trọng, đài các, bác học vốn là những nét đặc sắc, những nét khu biệt của thơ Đường mà đỉnh cao phải kể đến là Bà Huyện Thanh Quan. Nhưng điều đáng nói ở đây là bất chấp tất cả sự phi đối xứng đó, ấn tượng thẩm mỹ của thơ Hồ Xuân Hương không hề bị giảm sút mà ngày càng được độc giả chấp nhận, yêu mến và kính phục. 

2.2.2. Miêu tả các trò chơi dân  gian 

          Hội hè là một hình thức sinh hoạt tiếp giáp với  đời sống và nghệ thuật. Trong những dịp hội hè, người ta thường tổ chức những trò chơi dân gian. Đối tượng là tất cả mọi tầng lớp trong xã hội, mọi người tụ hội về đây cùng đắm mình trong những thú vui bình dị, vứt bỏ hết những lo toan, toan tính bộn bề của đời sống thường nhật cùng nhau vui chơi, cười đùa quên hết những mệt mỏi của công việc. Đây cũng là điều kiện để họ chống lại mọi thứ ràng buộc của xã hội đối với con người. Người ta mạnh dạn tìm đến với cuộc sống phàm tục để lôi hết tất cả những gì là hợm hĩnh, là cao cả thiêng liêng xuống bình diện vật chất, xác thịt. Nét văn hóa ấy trở thành phổ biến như một trào lưu nhất là khi chế độ phong kiến suy thái đến cùng cực. Ở nước ta cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX mà văn học dân gian là đồ chiếu đậm nét nhất, phải chăng chính điều đó đã ảnh hưởng lớn vào thơ Xuân Hương đến vậy? Đọc thơ Hồ Xuân Hương, ngẫm về các trò chơi trong thơ bà ta thấy nó đều mang âm hưởng của dân gian.

          Bài thơ "Đánh đu" viết về cảnh vui xuân của các cặp đôi trai gái vào dịp tết ở Miền Bắc nước ta. Cho đến nay các lễ hội ngày xuân vẫn còn giữ nguyên trò chơi chơi đu. Cái khó bước đầu là việc chọn tre và trồng cây đu sao cho khi đu phải nhẹ, an toàn và bay càng cao càng tốt:

   Trai đu gối hạc khom khom cật

   Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng

   Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

          Chơi  đu không nhất thiết phải chơi đôi, nhưng một trai một gái là cuộc thi thử sức lòng dũng cảm. Khi chàng trai nhấn đu cô gái trong tư thế  tay nắm chặt, chân duỗi thẳng, chờ đón độ cao bay bổng và khi độ cao đã giảm đến lượt cô gái nhún, chàng trai lại chờ đón...Tất cả đều phải nhịp nhàng, khỏe mà mềm mại, bay cao mà ung dung bình tĩnh. Họ tung bay giữa không trung giữa những ngày xuân đẹp trời, cùng cười đùa bên nhau. Âu đó cũng là một niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ngắn ngủi.

          Đọc bài thơ lên ta thấy hiển nhiên nó không chỉ mang một nghĩa duy nhất, thơ Xuân Hương là thế lúc nào cũng lấp lửng hai mặt. Đánh đu cũng mang một nghĩa khác là hoạt động tính giao. Khi cây đu hoạt động cũng chính là sự chuyển động của người đàn ông từ tư thế nằm dưới lên nằm trên rồi lại từ trên xuống dưới. Đây là sự bù trừ, trao đổi cho nhau sự giao hòa năng lượng nam nữ mang ý nghĩa phồn thực. Bài thơ tả cảnh đánh đu thật tuyệt vời. Từng bước những chuyển động, những màu sắc, không khí vui tươi của mùa xuân hòa cùng trời đất và lòng người.

          Những hình tượng trên cộng với cách dùng từ đôi nghĩa như "trồng" (chồng). Các từ láy đôi ám chỉ như: khéo khéo, khom khom, ngửa ngửa, phới phới, song song... Làm cho bài thơ dậy lên một nghĩa khác. Đó chính là biểu tượng của tính phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương và trong nền văn hóa tín ngưỡng của dân gian. Nó mang trong mình những dấu tích tuy bị thời gian làm chìm khuất nhưng không bao giờ mất đi của tín ngưỡng phồn thực. Đó chính là nhựa sống là nguồn cảm hứng của bất cứ nền thi ca nào.

2.2.3. Sử dụng hình thức kiểu câu đố dân gian

          Câu  đố là một thể loại văn học dân gian mà  chức năng chủ yếu là phản ánh đặc điểm của sự vật, hiện tượng bằng phương pháp dấu tên  và nghệ thuật chuyển hóa gây nhiễu (chuyển vật nọ thành vật kia), được nhân dân dùng trong sinh hoạt tập thể để thử tài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết mà mua vui, giải trí. Đơn vị tác phẩm của thể loại này gọi là câu, vì nó đều rất ngắn, tương tự như những câu tục ngữ và ca dao: “Anh lớn mặc áo đỏ. Em nhỏ mặc áo xanh” (Quả ớt). Nhưng cũng có không ít những câu đố dài:

                             Con hai đứa ở hai nơi

                   Gặp nhau một chỗ cùng chơi một phòng

                             Không may nhà sập đá chồng

                             Tan xương nát thịt máu hồng chứa chan

                                   (Trầu cau và việc ăn trầu)

          Tuy có nhiều tác dụng khác nhau (như đức dục, mỹ  dục), nhưng tác dụng chủ yếu của câu đố là  trí dục. Lối ẩn dụ của câu đố là  lối ẩn dụ riêng, khác với lối ẩn dụ  thông dụng trong văn học nghệ thuật. Dựa vào những biểu hiện khác nhau về nội dung, hình thức, người ta còn chia câu đố thành các loại, các nhóm khác nhau, như đố tục giảng thanh, loại đố chữ, loại đố nói và đố giảng.

          Giống như trò chơi dân gian thì câu đố trong thơ Hồ Xuân Hương cũng khởi nguồn từ dân  gian mà ra. Câu đố dân gian thường thể hiện trí tuệ của con người trước các đồ vật, sự vật, hiện tượng tự nhiên xảy ra xung quanh đời sống con người. Thơ Hồ Xuân Hương đã vận dụng rất thàmh công phương thức dân gian ấy.

          Trong câu đố của dân gian cũng có một câu đố về Hồ Xuân Hương như sau:

   Mất  đòn cân tạo hóa

   Đành khép túi càn khôn

   Tròn méo mặc miệng thế

   Vẫn giữ tấm lòng son

   (Là  ai? - là Hồ Xuân Hương)

          Vậy trong lĩnh vực câu đố dân gian, Xuân Hương đã vận dụng phương thức ấy như thế nào? Các bài thơ Mời Trầu, Ốc nhồi,  Hỏi trăng, Vịnh cái quạt, Đèo Ba Dội... là những sự vật, hiện tượng lấy từ tích câu đố mà ra. Ví dụ như bài thơ Đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương:

   Một  đèo một đèo lại một  đèo

   Khen ai khéo tác cảnh cheo leo

   Cửa son đỏ loét tùm hum nóc

   Hòn  đá xanh rì lún phún rêu...

Trong dân gian có câu đố:

   Đèo nào mỗi bước chồn chân

   Khiến người quân tử hiền nhân ngại ngùng

   Vừa leo vừa nghỉ ba lần

   Ai qua ai cũng bâng khuâng đứng nhìn?  

                                         (Đèo Ba Dội)

          Hay Xuân Hương có bài thơ Con Cua:

   Em có mai xanh, có yếm vàng

   Ba quân khiêng kiệu, kiệu nghênh ngang

   Xin cho ông Khổng về Đông Lỗ

   Học thói Bàn Canh nấu chín Thang.

          Trong câu đố dân gian cũng có câu đố về con cua như sau:

   Không đầu không cổ

   Mắt  ở trên chân

   Không có xương gân

   Thân mình vẫn cứng   

                                          (Con cua)

          Bài thơ Dệt vải của Xuân Hương cũng có tích từ  câu đố dân gian:

   Xương sườn, xương sống

   Không có thịt co da

   Chim đậu ở trên lưng

   Guốc  đi ở dưới bụng

   Giúp  ích cho người ta

   Khỏi trần truồng như nhộng

                                  (Khung dệt cửi) 

          Cái quạt giấy cũng được xuất hiện trong câu đố dân gian:

   Thân gầy chỉ có da xương

   Khi vui xòe rộng cánh hường vẫy tung

   Trời dù lặng gió đốt nung

   Vẫn nghe mát mẻ khắp cùng năm châu.  

                                            (Cái quạt giấy)

           Bài thơ "Mời Trầu" trong thơ Hồ Xuân Hương, Câu đố dân gian lại được nhắc đến tục mời trầu - một phong tục mang đậm cộng đồng của người Việt:

                                Đố tục giảng thanh

                                 Mở miệng mời anh

                                 Hai tay bưng đít?

                                          (Mời trầu)

          Trong bài thơ "Hòa thượng bị ong đốt" của Hồ Xuân Hương, con ong được nhắc đến trong bài thơ như một cái cớ nhằm  mỉa mai, châm chọc những nhà sư nào là mũ thâm là nón tu lờ. Họ khoác trên mình áo cà sa của phật tổ mà làm toàn chuyện bậy bạ, tục tĩu, bẩn thỉu. Trong câu đố dân gian cũng có một bài thơ đó về con ong nhưng với một ý nghĩa hoàn toàn khác.

                   Con gì chỉ thích yêu hoa

                   Ở đâu hoa nở dù xa vẫn tìm

                   Tháng năm cần mẫn ngày đên

                   Chắt chiu mật quý lặng im tặng đời?

                                                          (Con ong)

          Trong bài thơ "Hỏi trăng" của Hồ Xuân Hương, hình ảnh mặt trăng, ánh trăng và hình ảnh chị Hằng Nga đã được nhắc đến với một ý nghĩa rất riêng. Đó là sự hòa trộn giữa "tình riêng" với "tình nước non" như một câu hỏi chưa có lời đáp. Hơi hướng của bài thơ như một sự bỏ ngỏ dành cho người đọc tự trả lời, tự mình chiêm nghiệm. Trong câu đố dân gian cũng có câu đố về Mặt trăng và về chị Hằng Nga như sau:

                   Ở giữa thì bảo là già

                   Hai đầu nối lại vậy là còn non

Quẩn quanh trong cái vòng tròn

                   Bảo già cũng gật, bảo non cũng ừ?

                                                     ( Mặt trăng)

                   Muôn triệu người thế gian

 Đêm đêm luống mơ màng

                   Cô  thì luôn hờ hững

                   Lơ  lửng ở non ngàn

                   Cô  tên gì ai biết?

                                                 (Cô Hằng Nga)

          Hồ  Xuân Hương đã vận dụng rất thành công những tích của câu đố dân gian xưa để đưa vào thơ mình một cách linh hoạt, tài tình. Phải là một người rất tinh tế nhạy bén, am hiểu sâu sắc đời sống của quần chúng nhân dân, Xuân Hương mới xây dựng nên những hình tượng như thế. Đây là một biệt tài của Xuân Hương so với các nhà thơ khác, việc sử dụng câu đố của dân gian để đưa vào thơ mình một cách nhuần nhuyễn như thế quả thực không hề đơn giản một chút nào. Đây là một thành công lớn của Xuân Hương trong quá trình vận dụng, dân gian hóa thể thơ dân tộc.

          Tiểu kết: Chất liệu dân gian được dùng trong thơ Hồ Xuân Hương là khá đậm đặc. Chất liệu dân gian thể hiện trong cách dùng từ ngữ, cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ và chơi chữ. Chất liệu dân gian còn thể hiện qua việc dùng các phương thức dân gian như dùng hình thức đố, miêu tả các trò chơi dân gian và qua đó để ẩn dụ, ám chỉ một vật, một hiện tượng xã hội nào đấy. Hồ Xuân Hương sử dụng triệt để lối ăn nói dân gian theo kiểu ỡm ờ, hai mặt, đa nghĩa thông qua việc dùng các từ láy, các cách chơi chữ. Cách sử dụng chất liệu và các phương thức dân gian đã làm cho thơ bà có giá trị biểu đạt cao, hàm ngôn, đa nghĩa nên tùy vào từng hoàn cảnh, từng tình huống, từng vị thế xã hội của mỗi người mà có thể hiểu một cách khác nhau. Nó gợi nên những ý tưởng mới lạ cho người đọc, làm cho người này tức tối nhưng người khác lại thích thú hả hê. Tất cả những hiệu quả biểu đạt ấy chỉ được thể hiện từ chất liệu dân gian.

 
 
 

                                   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 3

Ý NGHĨA BIỂU ĐẠT QUA CÁCH SỬ DỤNG NGÔN TỪ

TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG

 

 

3.1. Yếu tố văn hóa phồn thực

3.1.1. Khái niệm văn hóa phồn thực 

          Lễ  hội gắn liền với thờ sinh thực khí và quan hệ nam – nữ. Sinh thực khí Nam, Phồn thực theo nghĩa chung là sự phát triển, sinh sôi. Tuy nhiên, xét về nghĩa của từ “phồn” và “thực” cùng với sự kết hợp của nó thì có nhiều nét nghĩa khác nhau. “Phồn” theo âm Hán là “fán” có nghĩa là 1. đông đúc (phồn hoa), 2. nhân lên nhiều (phồn vinh). Đồng nghĩa với “phồn” là “phiền” cũng phát âm là “fán” có nghĩa là 1. tốt tươi (phiền mậu), 2. nảy nở (phiền diễn), 3. nhiều (phiền tinh). “Thực” theo âm Hán là “shí” có nghĩa là 1. ăn, đồ ăn (ẩm thực), 2. đất sét, đất thó, 3. cây cối (thực vật), 4. gây giống (sinh thực khí). Phồn thực được hiểu theo nghĩa hòa hợp âm dương giữa đất và nước, giữa trời và đất. Nước cũng là từ trời, theo ngôn ngữ hệ Tày – Thái trong tiếng Lào, có từ đọc là “phổn”, nghĩa là mưa, gần âm với “phồn” và nghĩa 2 của từ “thực” là đất. Phồn thực được hiểu theo nghĩa là sự phát triển sinh sôi thì “phồn” cũng đọc là “phiền” có nghĩa thứ 1 là tốt tươi, nghĩa thứ 2 là nảy nở và “thực” có nghĩa thứ 3 là cây cối. Phồn thực được hiểu theo nghĩa là sự nhân giống thì “phồn” có nghĩa thứ 2 là nhân lên nhiều và “thực” có nghĩa là gây giống (sinh thực khí). Như vậy, lễ hội có liên quan đến văn hóa phồn thực là các nghi lễ và trò chơi gắn liền với nước, đất, gieo trồng, sinh thực khí, quan hệ nam -  nữ.

          Văn hóa phồn thực ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu văn học, văn hóa quan tâm. Đã có một số công trình nghiên cứu văn hóa phồn thực trong văn học viết. Đáng chú ý là cuốn Sáng tác của Francois Rabelais với văn hóa dân gian thời Trung đại và Phục hưng (1965). M.Bakhtin đã đưa ra cái nhìn văn hóa để phân tích và lý giải tác phẩm của nhà văn Phục Hưng Pháp Rabelais. Năm 1968, trong lời giới thiệu viết cho cuốn sách Thơ Hồ Xuân Hương xuất bản bằng tiếng Nga, nhà Việt Nam học người Nga N. Nicutin đã dựa theo cách nghiên cứu của M.Bakhtin để so sánh sự xâm nhập của văn hóa dân gian Việt Nam vào thơ Hồ Xuân Hương. Tiếp tục theo hướng này, GS. Lê Trí Viễn, năm 1987 đã cắt nghĩa yếu tố tục trong thơ nữ sĩ trong công trình Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, Sở Giáo dục tỉnh Nghĩa Bình xuất bản. Nguyễn Tuân nói cụ thể hơn đến sự ảnh hưởng của tục thờ “nõn nường” trong văn hóa dân gian một số vùng miền Bắc Việt Nam trong thơ Hồ Xuân Hương trong bài Băm sáu cái nõn nường Xuân Hương (1986). Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy trong cuốn chuyên luận Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực, Nxb VHTT, H.,1999 đã dùng phương pháp nhân học – văn hóa học để lý giải thơ nữ sĩ theo hướng văn hóa phồn thực. Nghiên cứu văn hóa phồn thực trong văn học dân gian đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến nhưng chưa thành chuyên luận riêng. Nghiên cứu văn hóa phồn thực trong lễ hội mới là những nét miêu thuật trong lễ hội nói chung. Ở bài viết này, chúng tôi chỉ phác thảo những nét sơ lược về các hình thức lễ hội mang yếu tố văn hóa phồn thực. 

          Trước hết là các lễ hội có các nghi người Chăm gọi là Linga, là cơ quan sinh dục duy trì  và phát triển nòi giống. Quan hệ nam – nữ  là vừa là lẽ tự nhiên, vừa hoạt  động kích thích sự ham muốn và tăng cường năng lực tình dục của con người. Người xưa khát khao có nhiều con để duy trì và phát triển giống người nhưng việc sinh đẻ khó khăn nên người ta tin rằng có vị thần phụ trách việc quan hệ nam – nữ. Vị thần đó hiện thân giống bộ phận sinh thực khí Nam và trở thành tín ngưỡng thờ sinh thực khí và đi kèm với đó là các hoạt động nghi lễ kích thích sự ham muốn và năng lực nhân giống của thần bằng các cuộc tiếp xúc, đụng chạm nam – nữ, các hành động mô phỏng quan hệ ân ái.

3.1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa phồn thực và khát vọng nhân văn nhân bản

          Nhiều người khi bàn đến những vấn đề thầm kín trong chuyện tình yêu, tình vợ chồng, chuyện phòng the, họ thường đỏ mặt tỏ ý dấu kín, không muốn bàn tới. Họ xem như đó là một sự xỉ nhục, lố lăng, tục tĩu, bậy bạ. Trước đây sống trong thời đại phong kiến, vấn đề vốn được xem là tục tĩu, đồi bại kia lại càng bị cấm đoán, bị bài trừ và tẩy chay. Có chăng chỉ các đấng mày râu mới có cái quyền ngồi lại với nhau để bàn tán. Với phụ nữ thì hoàn toàn không. Đã là con người thì ai cũng có nhu cầu về tính dục như nhau, điều đó cũng rất tự nhiên, rất con người. Thế nhưng, xã hội phong kiến với những hủ tục lạc hậu đã áp đặt lên con người sự bất bình đẳng ấy. Sự bất bình đẳng về quyền sống, quyền tự do con người vốn đã oan nghiệt rồi thì sự bất bình đẳng về tính dục thì thật là đê tiện. So với người đàn ông thì người đàn bà nhu cầu về tính dục cao hơn nhưng chính họ lại bị xã hội áp đặt, cấm đoán dã man hơn. Trai thì "Năm thê bảy thiếp", họ có quyền được lấy nhiều vợ, đầu gối tay ấp với nhiều phụ nữ khác. Còn người phụ nữ thì "Gái chính chuyên chỉ lấy một chồng" đó là chưa kể đến cảnh làm vợ lẽ thì thật là hẩm hiu, đáng thương. Trong chuyện chăn gối người đàn ông tự đặt cho mình cái quyền chủ động, buộc người phụ nữ phải theo ý muốn của mình, họ phải làm theo một cách máy móc, khuôn sáo, răm rắp mà không một tiếng thở than gì. Chính vì phải chịu đựng những oan ức thiệt thòi bị ức chế cả về thể xác lẫn tâm hồn, mà người phụ nữ xưa tiêu biểu là Hồ Xuân Hương là một trong những người tiên phong nói lên tiếng nói phản kháng, đả kích, bênh vực quyền lợi vốn là tự nhiên của mình. Hồ Xuân Hương không chỉ đứng lên đòi quyền bình đẳng cho người phụ nữ, hơn nữa đó là nhu cầu về tình cảm của người phụ nữ phải được đáp ứng một cách công bằng, đó chính là ngọn nguồn của mọi giá trị nhân văn, nhân bản.

          Đó là tiếng nói đòi quyền hạnh phúc cá nhân của người phụ nữ, quyền bình đẳng, tự do trong tình yêu và trong cả nơi buồng the. Hồ Xuân Hương ca ngợi vẻ đẹp, tài năng, vai trò của người phụ nữ. Miêu tả khái quát giàu hình ảnh thân thể ngọc ngà của người phụ nữ (Thân em vừa trắng lại vừa tròn - Bánh trôi nước), (Đôi gò bòng đảo sương còn ngậm, một lạch đào nguyên nước chửa thông - Thiếu nữ ngủ ngày). Một sự phản kháng mãnh liệt với thói đạo đức giả , coi thân thể ngọc ngà của người phụ nữ là thấp hèn, ý nghĩ đó đã ăn sâu, bám rễ bào mòn trí tuệ của những tài tử, văn nhân thời phong kiến.

          Hồ Xuân Hương không chỉ đả kích, phản ứng xã hội mà sâu xa hơn đó là một sự ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ với những đường nét thiết tha, uyển chuyển, một nét đẹp tinh tế, khiến cho "Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt, Đi thì cũng dở, ở không xong" (Thiếu nữ ngủ ngày). Nó như là một thông điệp mà nhà thơ muốn gửi đến bạn đọc. Hãy biết trân trọng người phụ nữ, hãy có một cái nhìn bình đẳng cho "phái yếu" hãy trả lại cho họ những quyền lợi chân chính thuộc về họ, với những nhu cầu, bản năng tự nhiên vốn rất nhân bản, bởi lẽ "Thịt da ai cũng là người thế thôi" (truyện Kiều - Nguyễn Du).

3.1.3. Biểu hiện tính phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương

          Nhà  thơ Tản Đà phê bình thơ Hồ Xuân Hương như sau: "Thơ của Hồ Xuân Hương thật là linh quái, những câu thơ đọc lên thấy ghê người. Người ta thường có câu: Thi trung hữu họa nghĩa là trong thơ có vẽ. Như thơ Hồ Xuân Hương thì lại là: Thi trung hữu quỷ nghĩa là trong thơ có ma! Song mà nhận ra thời tục" [18, tr.161]. Hoặc ông viết trong một bài ca:

   Ngồi buồn nhớ chị Xuân Hương

   Hồn thơ còn hãy như nhường trêu ai

   Cho hay mệnh bạc có trời

   Đồng cân đã nặng bên tài thì thôi

          Suy cho cùng ý nghĩa cơ bản của những biểu tượng dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương chính bắt rễ từ yếu tố phồn thực từ dân gian mà ra.  

          "Biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương là  biểu tượng của văn hóa tôn giáo, chúng tồn tại và  hình thành từ xa xưa"[18, tr.270]. Bằng thứ ngôn ngữ bình dân, quen thuộc nhà thơ đã lột tả được cái gọi là siêu mẫu tồn tại vô thức trong cộng đồng dưới dạng huyền thoại, cổ tích... Đó là cái quạt, là cái giếng, đèo Ba Bội, trống thủng, đánh đu, tát nước...Đó là những biểu hiện rõ nét nhất tính phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương. Biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương rất đa dạng và phong phú, để dễ tiếp cận sâu với văn bản hơn chúng tôi đã chia ra thành 4 loại như sau:

-Các hình ảnh gợi liên tưởng đến bộ phận của cơ quan sinh dục phụ nữ như: hang (Cắc cớ -Thanh Hóa), động (Hương tích), đèo (Ba bội), kẽm (Trống), giếng (Cầu trắng phau phau đôi ván ghép), lỗ (Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không), kẽ rêu (Trưa trật nào ai móc kẽ rêu), cái quạt (Chành ra ba góc da còn thiếu, khép lại đôi bên thịt vẫn thừa), miệng túi (Càn khôn)...

          - Các hình ảnh gợi liên tưởng đến bộ phận cơ  quan sinh dục nam như: sừng (Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa), cán cân (Cán cân tạo hóa rơi đâu mất), dùi trống (Trống thủng vì chưng kẻ nặng dùi), con suốt (đâm ngang thích thích mau), cọc (Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không), hòn đá (đâm toạc chân mây)...

          - Các hình ảnh gợi hành động tính giao: đánh đu (Trai đu gối hạc khom khom cật/ Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng), dệt cửi (Hai chân đạp xuống năng năng nhắc/ Một suốt đâm ngang thích thích nhau), đánh trống (Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc/ Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi), châm (Ong non ngứa nọc châm hoa rữa), húc (Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa), trèo (Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo)...

          - Biểu tượng thân thể và các bộ phận gợi cảm của phụ nữ: Bánh trôi (Thân em vừa trắng lại vừa tròn), quả mít (Da nó xù xì múi nó dày), mặt trăng (Đêm trăng cớ chi phô tuyết trắng, Ngày xanh sao nỡ tạo lòng son), bồng đảo (Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm), lưng ong (Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng), nương long (Yếm đào trễ xuống dưới nương long), mông đít (Nhấp nhổm bên ghềnh đít vắt ve)...

          "Biểu tượng phồn thực chia ra hai loại là biểu tượng gốc và biểu tượng phái sinh. Biểu tượng gốc là  những biểu tượng đã tồn tại lâu đời trong đời sống cộng đồng, trong lễ hội tập tục thờ cúng, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân: hang, động, lỗ đó là những sáng tạo của cộng đồng từ xa xưa" [18, tr.272]. Trước hết chúng còn liên quan đến những huyền thoại về cột vũ trụ, trứng vũ trụ, trời và đất, đực và cái, âm và dương...Theo quan niệm của người xa xưa thì trời là cha đất là mẹ, nên tuyệt nhiên hang, động, giếng ta hiểu đó là âm vật.

          Thơ  Hồ Xuân Hương các biểu tượng hang, động, đèo thể  hiện rất rõ. Bài thơ Động Hương tích (Chùa Hương) là một ví dụ:

   Bày  đặt kìa ai khéo khéo phòm!

   Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom

   Người quen cõi phật chen chân xọc

   Kẻ  lạ bầu tiên mỏi măt dòm

   Giọt nước hữu tình rơi thánh thót

   Con thuyền vô trạo cúi lom khom

   Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại

   Rõ  khéo trời già đến giổ dom

          Các cụm từ: nứt làm đôi, chen chân xọc, cúi lom khom...Bên cạnh nghĩa thứ nhất tả cảnh chùa chiền với một khung cảnh, con người thơ mộng thì nghĩa thứ hai là nghĩa ngầm rất Xuân Hương tả âm vật và hoạt động tính giao của con người. Ở đây Hồ Xuân Hương nói đến các hang động, chùa chiền đó là những nơi thiêng liêng, nơi thờ thần cúng phật. Có người khi đọc bài thơ này cho rằng đây là một sự đả kích tôn giáo. Chúng tôi nghĩ không hẳn là như thế. Các hình ảnh và hoạt động trong bài thơ này đều gợi đến các bộ phận sinh dục và hoạt động tính giao. Các sự vật được dùng trong tín ngưỡng cũng mang biểu tượng phồn thực. Những ngọn tháp cũng mang bóng dáng của dương vật. Que hương thân tròn chân vuông là biểu tượng của Linga và Yôni được cắm vào bình hương là hoạt động tính giao.

          "Biểu tượng phái sinh ngược lại là sáng tạo riêng của nhà thơ" [18, tr. 272]. Những biểu tượng này không có nghĩa tự thân ngoài văn bản thơ, hay đúng hơn ở ngoài đời chúng mang nghĩa khác nhưng trong thơ Hồ Xuân Hương chúng lại mang nghĩa phồn thực. Trong đời sống hàng ngày biết bao sự vật, hành động ta thường gặp, quen đến nhẵn mặt, không hề có một ý nghĩa nào khác vậy mà trong thơ Hồ Xuân Hương chúng lại mang một ý nghĩa khác, như mặt trăng (Một trái trăng thu chín mõm mòm/ Nảy vừng quế đỏ lỏm lòm lom...), các vị thuốc, giao cầu thuyền tán (Thạch nhũ trần bì sao để lại, Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ...). Việc dệt cửi được miêu tả theo hướng phồn thực:

          Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau

          Con cò mấp máy suốt đêm thâu

          Hai chân đạp xuống năng năng nhắc

          Một suốt đâm ngang thích thích mau.

          Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả, 

           Ngắn dài khuôn khổ cũng như  nhau.

          Cô  nào muốn tốt ngâm cho kỹ

          Chờ  đến ba thu mới giãi màu.

          Bài thơ rõ ràng có hai lớp nghĩa. Nghĩa thứ nhất là tả người dệt cửi. Từ khung cảnh ban đêm, màu trắng của sợi, các bộ phận của khung cửi như con cò, suốt, khuôn khổ...đến các động tác của người và công cụ lao động (Hai chân đạp xuống năng năng nhấc, Một suốt đâm ngang thích thích mau), đều được miêu tả chính xác. Hai câu kết như một lời bình luận của tác giả, khớp với nghĩa thứ nhất và làm nổi lên nghĩa thứ hai. Như vậy mỗi một từ một câu trong bài thơ của Hồ Xuân Hương đều ánh lên hai nghĩa: nghĩa phô và nghĩa ngầm, nghĩa thanh và nghĩa tục. Đúng như nhận xét của Xuân Diệu : "Thơ Hồ Xuân Hương tục hay là thanh? Đố ai bắt được: Bảo rằng nó hoàn toàn là thanh, thì cái nghĩa thứ hai có dấu được ai, mà Hồ Xuân Hương có muốn dấu đâu. Mà bảo nó là nhảm nhí, là tục, thì có gì là tục nào?".

          "Như  vậy những biểu tượng phồn thực nói chung và biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương nói riêng đều có hai mặt lấp lửng của nó giống như hai mặt của một tờ giấy, có mối quan hệ khăng khít lẫn nhau. Chúng luôn vận động và chuyển hóa tạo sự hòa quyện gắn bó với nhau" [18, tr.280]. Mỗi bài thơ của Xuân Hương, đằng sau cái ý nghĩa đời thường, ý nghĩa xã hội chính là ý nghĩa tâm linh, tín ngưỡng phồn thực, đằng sau cái con người xã hội  là con người vũ trụ. Hồ Xuân Hương đã làm được điều mà tưởng như không thể làm được, cái không thể tuyệt nhiên đã trở thành có thể. Trước Hồ Xuân Hương không có ai đã đành. Sau Hồ Hương cũng không có ai vì muốn làm được  như vậy phải trên cơ sở tín ngưỡng phồn thực đã trở thành cái nhìn nghệ thuật của thế giới.

3.2. Thân phận người phụ nữ  với khát vọng nhân văn nhân bản

          Xã  hội phong kiến là xã hội trọng nam khinh nữ. Những gì mà một người đàn ông cần là "trung quân ái quốc", "phải có danh gì với núi sông", là "tu nhân, tề gia, trị  quốc, bình thiên hạ". Người phụ nữ phải là "tiết hạnh khả phong", "tam tòng tứ đức" là "chính chuyên chỉ có một chồng". Người phụ nữ là cái xác không hồn bị bổn phận và nghĩa vụ đè bẹp. Tư tưởng trọng nam khinh nữ nhiều khi qua cực đoan "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô". Người phụ nữ không một chút tự do, không được quyền đòi hỏi hạnh phúc, họ chỉ có một nghĩa vụ duy nhất là làm tròn bổn phận và chức năng của mình. Trong chuyện riêng tư, chăn gối thì người phụ nữ bao giờ cũng là người bị động. Trong chuyện buồng the thì người phụ nữ chỉ là kẻ "phục vụ" chứ không có quyền "khám phá" và "tận hưởng".

          Hồ  Xuân Hương không chấp nhận như thế. Là người phụ  nữ ai cũng khát khao một cuộc sống hạnh phúc, một tình yêu ngọt ngào. Xuân Hương cũng đứng về phía tình yêu, bà thay lời chị em phụ nữ nói lên tiếng nói chân thực, riêng tư mà tiêu biểu cho trái tim của hàng triệu triệu phụ nữ bao đời nay bị phong kiến, nho giáo trói buộc, chôn vùi những khát vọng nhân sinh, nhân bản. Xã hội bấy giờ xem những người phụ nữ không chồng mà chửa là đồ hư hỏng, đáng vất đi, gia đình coi đó là nỗi ô nhục, phải cạo trọc đầu bôi vôi rồi rong đi khắp làng hoặc thả trôi sông...Xuân Hương đã lên án rất mạnh mẽ. Bản chất của người phụ nữ là sự hy sinh nhưng vì số phận không may mắn mà...Chẳng lẽ con người sinh ra không được hưởng quyền sống tối thiểu đó sao? Không lẽ gì mà xã hội phong kiến vô nhân đạo kia lại có quyền chối bỏ, phủ nhận một cách sạch trơn được.

          Xuân Hương phê phán cái xã hội cho phép người đàn ông lấy nhiều vợ để rồi sinh ra cảnh vợ lẽ, vợ cả "kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng". Đã có biết bao nhiêu phụ nữ trải qua cuộc đời làm lẽ nhưng đã có tiếng tố cáo nào quyết liệt đến thế? Xuân Hương đã lên tiếng phê phán quyết liệt đồng thời tỏ thái độ đồng cảm sâu sắc với thân phận lẽ mọn con đòi:

          Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

          Năm thì mười họa chăng hay chớ

          Một tháng đôi lần có cũng không.

          Bọn phong kiến từ vua đến quan, từ hiền nhân  đến quân tử luôn mồm khoác lác rằng mình là  quân tử, đạo đức trong sáng, khuôn vàng thước ngọc suy cho cùng cũng chỉ là bọn giả dối. Ban ngày thì "Cao đạo như thần" ban đêm thì lại "tần mần như ma". Xuân Hương đã khai thác vào điểm yếu là tình dục, qua đó Xuân Hương tha hồ vừa đùa vừa cho các vị nếm những ngón đòn cay nghiệt dở khóc dở cười "Đầu sư há phải gì bà cốt, bá ngọ con ong bé cái lầm". "Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt, đi thì cũng dở ở không xong". Xuân Hương đã phê phán thái độ một mặt mê say sắc, dục nhưng mặt khác lại dè dặt buộc tội cái thú vui sinh học ấy.

          Thời  đại bấy giờ, chế độ phong kiến ra mặt phản  động, sự bỉ ổi trắng trợn không riêng gì một kẻ mà lan rộng ra cả một tầng lớp người. "Cái đèo" trở thành một đối tượng phản ánh rất hấp dẫn, dù gian nan dù mỏi gối chồn chân nhưng các vị vẫn muốn trèo... các đam mê ham muốn ấy là lẽ thường tình của con người, không trừ một ai, không của riêng ai.

          Ở bình diện sự sống, nam nữ là không phân chia, càng không có cấp bậc, hoàn toàn ngang nhau, chỉ vì xã hội phân chia trên dưới đẳng cấp, kẻ thống trị người bị trị nên người phụ nữ mới bị khinh rẻ và xem thường đến như thế. Thời phong kiến ở Phương Đông nho giáo, người phụ nữ phải sống dưới quyền của người đàn ông, luôn luôn coi như chưa trưởng thành, phụ nữ là "không thể dạy được" phụ nữ là phận trong buồng, dưới nhà bếp không đi quá chuồng heo, rổ rá, tam tòng tứ đức chẳng qua cũng là phục vụ cho cho các đấng phu quân mà thôi. Xuân Hương đã lấy ngay cái thân xác người phụ nữ mà tô mà đắp cho thật khéo, quyến rũ dắt cả thầy tu lẫn vua chúa vào tới nơi rồi bất thần sụp họ xuống. Kẻ thì chân dính chặt xuống đất trước "Yếm đào trễ xuống dưới nương long" kẻ thì "dấu yêu một cái này"...Vứt đi tất cả những giáo điều về phong kiến và nho giáo về người phụ nữ phải trả cho người phụ nữ về đúng giá trị của họ, trở lại với sự bình đẳng về sự sống.

          "Đức hạnh với lòng kiên trinh, sức chịu đựng và nghị lực của người phụ nữ trong cuộc sống, từ lâu đã thành truyền thống. Cuộc đời đầy ắp những bất công, giăng giăng những trói buộc. Tất cả điều đó chỉ để nhằm tô điểm thêm cho đức hạnh của người phụ nữ được rèn luyện trong lao động và đau thương" [24, tr.22]. Xuân Hương đã đứng về phía người phụ nữ mà cảm mà nghĩ. Bà đã bước đến một ngưỡng cửa của chủ nghĩa tự nhiên. Mà biểu hiện sự sống hồn nhiên, lành mạnh là một biểu hiện sâu xa. Đó là sự phản đối mọi sự vi phạm nguyên tắc của sự sống mà cuối cùng là tư tưởng nhân đạo lớn lao dựa trên sự nâng niu trân trọng sự sống. Hồ Xuân Hương là một con người tài hoa giàu sức sống mà cuộc đời thì lận đận đắng cay. Cuộc đời không những bị chén ép về mặt tinh thần, tình cảm mà cả về bản năng dục vọng đời thường về hạnh phúc ân ái của con người. Xuân Hương đã nói lên tiếng nói cho cả xã hội thời bấy giờ, một xã hội đã vùi lấp và phủ kín con người ta nằm yên trong cái bao bọc của sự bi quan, nhẫn nhục, chịu đựng. Xuân Hương nói về những nhu cầu hạnh phúc của con ngưòi đâu có gì là dâm là tục, đó chẳng phải là bản năng sinh vật của bao đời đó sao? Xã hội phong kiến chủ trương tiêu diệt cái gì "là mình", "của mình", cho nó là xấu xa bỉ ổi. Hủy diệt mọi nhu cầu cá nhân để tôn thờ giai cấp thống trị. Tiếng thơ của Xuân Hương có quá quắt có "nặng" nhu cầu ân ái một cách da diết, táo tợn như vậy suy cho cùng đó cũng là một đòn giáng mạnh vào chế độ phong kiến mục rỗng "khát tình" ấy mà thôi. Đó là một khát vọng chính đáng của con người bị xã hội phong kiến dìm xuống.

          Hồ  Xuân Hương nói đến lòng xót thương người phụ nữ hay đả kích giai cấp thống trị, dù bộc bạch tâm sự riêng tư hay ngâm ngợi phong cảnh của thiên nhiên thì đều quy tụ ở một sự chi phối thống nhất đó là chủ nghĩa nhân văn nhân đạo sâu sắc. Đó là tình yêu đời thiết tha, mộc mạc là tiếng nói đòi sự công bằng là thú vui nhân bản của con người. Phải biết trân trọng những thân phận hẩm hiu kém may mắn trong cuộc đời, dám đứng dậy chống lại những gì là phản tự nhiên là giả dối, bất công xã hội. Đó mới chính là Hồ Xuân Hương.

          Tiểu kết: Ý nghĩa biểu đạt của thơ Hồ Xuân Hương là giá trị nhân văn  nhân bản mà thơ bà muốn đạt tới. Giá trị nhân bản trong thơ Hồ Xuân Hương chính là nói lên điều khát khao rất “con” của con người bị đè nén, bị chìm lấp, bị né tránh, đó là khát vọng phồn thực, khát vọng được hưởng cái điều tạo hóa cho con người. Nhưng phồn thực mà không dung tục, không phàm tục, phồn thực nhưng rất nhân ái, nhân văn.

          Giá  trị nhân văn là đề cao giá trị văn hóa của con người, con người cần phải được sống hạnh phúc, công bằng, tự do, nhân ái.  Người phụ nữ là một phần lớn của nhân loại, là người sản sinh ra con người văn hóa cần được hưởng mọi giá trị mà họ cần được hưởng. Thơ Hồ Xuân Hương nói được tiếng nói khát khao về hạnh phúc, quyền được sống sung sướng, xác định rõ vị thế của người phụ nữ trong xã hội.

          Tất cả những ý nghĩa biểu đạt trên đã làm nên sự nổi tiếng của thơ bà, không những ở phạm vi trong nước mà tầm cỡ nhân loại, tạo nên một hiện tượng văn học đặc biệt của văn học Trung đại, có sức lan tỏa và ảnh hưởng lớn đến thế hệ cùng thời và sau này. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KẾT LUẬN

 

 

          Hồ  Xuân Hương là một nhà thơ yêu đời, yêu cuộc sống. Thơ Hồ Xuân Hương không bao giờ  là dửng dưng, lạnh nhạt. Nhà thơ luôn mang trong mình một trái tim cháy bỏng, nói đến một vấn  đề gì cũng đều nói bằng cả sự xúc động chân thành của mình. Khi giận thì thét lên mắng chưởi, khi yêu thương thì đằm thắm ngọt ngào. Giống như nhiều nhà thơ cổ điển khác Hồ Xuân Hương đã vận dụng thành công sáng tạo ngôn ngữ của dân tộc. Bà đã sáng tạo lại ca dao, tục ngữ, câu đố đã triệt để lợi dụng các tính từ, từ láy, trạng từ tăng hiệu quả của việc tạo hình và miêu tả . Nhờ vậy mà người, cảnh, vật được hiện lên trong thơ Hồ Xuân Hương có màu sắc, đường nét, hình khối riêng. Với phong cách đó, phong cách biểu hiện nét "nghĩa đôi" lập lờ của Hồ Xuân Hương chủ yếu dựa trên thủ thuật chơi chữ, lối nói lái, lối nói lỡm lờ và nghệ thuật câu đố "tục mà thanh, thanh mà tục".

          Thơ  Hồ Xuân Hương bên cạnh tiếng cười giòn giã, lạc quan, thách thức còn có cả tiếng thở dài ngậm ngùi, xót xa cho thân phận nổi trôi, hẩm hiu, bạc bẽo cho thân phận người phụ nữ. Đó là tiếng nói đòi quyền sống và nhân phẩm của người phụ nữ chống lại những tập tục bất công vô nhân đạo của lễ giáo phong kiến. Tiếng nói ấy sẽ mãi vang vọng hôm nay, ngày mai trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

          Hồ  Xuân Hương đã góp phần cống hiến quan trọng vào sự  phát triển của dòng thơ tiếng việt của ngôn ngữ  văn học Việt Nam. Nếu như Nguyễn Du đã có công nâng thể thơ dân gian là lục bát lên chiếm lấy một địa vị chính thức trong lịch sử văn học dân tộc thì Hồ Xuân Hương và một số nhà thơ đương thời (Bà huyện Thanh Quan), đã hoàn thành quá trình việt hóa thể thơ luật vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc và nâng nó lên một trình độ cao hơn. Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ đầu tiên thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày để sáng tác thơ và những cống hiến quan trọng trong việc cải tạo thể thơ Đường luật. Thành công của Xuân Hương là một đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp phát triển nền văn học Trung đại nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung.

          Thơ  Hồ Xuân Hương tạo nên một phong cách ngôn ngữ đặc biệt, uyên bác nhưng rất dân gian, dân gian mà rất thâm thúy sâu cay. Hồ Xuân Hương với tâm hồn phóng túng, bản ngã vững vàng sắc sảo, không sợ thành kiến dư luận đôi khi có vẻ trâng tráo sống sượng, nhưng nỗi lòng và số phận đáng thương, đáng tủi hờn đã được Hồ Xuân Hương diễn tả với một lối văn giản dị, rất đời thường. Bà đã thoát ra khỏi ảnh hưởng của Hán văn mà trung thành với thể thơ dân tộc, bình dân. Ngày nay chúng ta càng trân trọng và yêu quý Hồ Xuân Hương bởi bên trong con người luôn nhìn đời bằng ánh mắt mỉa mai ấy là một tâm hồn biết buồn, biết khổ, biết xót xa cho thân phận khổ đau của con người mà người phụ nữ là một minh chứng điển hình. Điều đó đã tạo nên giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc, có giá trị phản phong, thổi một luồng gió mới vào văn học đương thời.

          Hồ Xuân Hương không chỉ là một tác gia văn học mà là một hiện tượng văn học, văn hóa. Hồ Xuân Hương biểu hiện điển hình cho sự trỗi dậy của ý thức cá nhân, một thời kỳ phục hưng văn học ở Việt Nam. Đáng chú ý là sự phản kháng với thiết chế xã hội phong kiến lỗi thời, ý thức đòi quyền sống hạnh phúc, đòi sự bình quyền của mỗi con người, đặc biệt là người phụ nữ. Đặc biệt là sự đóng góp của tác giả trong việc sử dụng tiếng Việt và Nôm hóa thể thơ Đường vốn đòi hỏi sự uyên Nho làm cho nó có sắc thái riêng rất Xuân Hương nhưng vẫn đậm sắc thái Việt, văn hóa Việt.

 
 
 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, H.

2. Lại Nguyên Ân (2001), Hồ Xuân Hương- Thơ trữ tình, Nxb Hội nhà văn, H.

3. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H.

4. Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb ĐH&GDCN , H.

5. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, H.

6. Xuân Diệu (1959), Ba thi hào dân tộc, Nxb Văn hóa, H.

7. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt- từ loại, Nxb ĐH&THCN, H. 

8. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H. 

9. Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy tiếng Việt, Nxb KHXH, H.

10. Đặng Thanh Hoà  (2001), Thành ngữ và tục ngữ trong thơ  Nôm Hồ Xuân Hương, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số4, H.

11. Hồ Sĩ Hiệp (1997), Hồ Xuân Hương, Nxb Văn Nghệ TP. HCM

12. Đinh Trọng Lạc (Chủ biên), Nguyễn Thái Hoà (1997), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H.  

13. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H.      

14. Nguyễn Lộc (1982), Thơ Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, H.

15. Nguyễn Lộc (2005), Văn học Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, H.

16. Lữ Hữu Nguyên (2005), Hồ Xuân Hương thơ và đời, Nxb Văn học, H.

17. Lữ Hữu Nguyên (2007), Tác giả trong nhà trường Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, H.

18. Nguyễn Hữu Sơn- Vũ Thanh (2003), Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, H.

19. Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề về thi pháp văn học Trung Đại, Nxb Giáo dục, H.

20. Đào Thái Tôn (1993), Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục, Nxb Giáo dục, H.

21. Nguyễn Tuân (1998), Hồ Xuân Hương thơ và đời, Nxb Văn học, H.

22.Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

23. Đỗ Lai Thúy (1998), Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, Nxb Văn hóa thông tin, H.

24. Lê Trí Viễn (1998), Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, Nxb Giáo dục, H.

25. Ngô Lăng Vân (2003), Hồ Xuân Hương toàn tập, Nxb Thanh Hóa.

26. Trang web tìm kiếm: www.google.com.vn.

                                                       

 

Vũ Thị Thắm

Ngày 05/01/2012
Lâm Thị Hồng (ST)  
[ In trang ][ Xem & in ][ Gửi mail ][ Đầu trang ][ Trở lại ]
 
Ý kiến của bạn
Họ và tên *
Điện thoại Email :
Địa chỉ *
Nội dung *

 PM TÁC NGHIỆP
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂN TIẾN
Trưởng ban biên tập: Thầy Bùi Tuấn Anh - Hiệu trưởng
Địa chỉ: Xã Tân Tiến, Huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 0320.3716229 - Fax: 0320.3716229
Gmail:thcstantien2007@gmail.com